“Cầu đảo có gì là khó! Lão Tôn đây lật sông dốc biển, đổi vật dời sao, phun mây nhả mù, đuổi trăng gánh núi, lật trời đào giếng hô gió gọi mưa. Những việc ấy chỉ là trò trẻ con, có gì là ghê gớm?” 

Những lời này của Ngộ Không quả thực không phải là nói quá. Một Tề Thiên Đại Thánh từng khiến mười vạn thiên binh thiên tướng phải bó tay, trên hành trình thỉnh kinh cũng mấy phen sai khiến quỷ thần, hô phong hoán vũ ở nước Xa Trì, Chu Tử… Vậy mà, có một lần Tôn Hành Giả phải xấu hổ ra về, một giọt mưa cũng không cầu được. Đằng sau câu chuyện “Quận Phượng Tiên khinh trời bị hạn; Tôn Đại Thánh khuyến thiện làm mưa” là những đạo lý nhân sinh và tu luyện thật thâm sâu huyền áo.

Lòng từ bi của Đại Thánh – Sự bẽ bàng của Ngộ Không 

Trong 100 hồi của “Tây du ký”, có lẽ hồi thứ 87 là một trong những chương đoạn hiếm hoi mà thầy trò Đường Tăng không phải giao tranh kịch liệt cùng yêu quái, cũng không phải nơm nớp lo bảo toàn sinh mệnh. Vốn tưởng chỉ là một việc thiện dễ như trở bàn tay, ai ngờ lại khiến Tề Thiên Đại Thánh tràn đầy tự tin phải một phen bẽ bàng.

Đó là khi thầy trò Đường Tăng đi tới địa giới Phượng Tiên, quận ngoài nước Thiên Trúc. “Trải qua mấy năm hạn hán liên tiếp đến nỗi ruộng nẻ giếng khô cong. Nhà giàu chỉ tạm sống qua ngày, kẻ nghèo cũng khó mong thoát chết. Đấu gạo giá chợ đắt nghìn vàng, bó củi mất đứt hai lạng bạc. Con gái mười tuổi đổi gạo ba thăng, con trai năm tuổi mặc cho người nhặt. Trong thành sợ phép nước bán cả quần áo để nuôi thân, ngoài thôn dối cửa công ăn cả thịt người mong đỡ đói.” Đọc được bảng văn cầu hiền, thầy trò Ngộ Không động lòng từ bi, muốn cầu giúp lê dân một cơn mưa ngọt.

Đầu tiên, Ngộ Không niệm chân ngôn vời Long Vương tới, nhưng Long Vương nói chưa có chiếu chỉ của Thượng Đế nên không dám tự tiện làm mưa. Ngộ Không lại cưỡi mây lên thiên đình, gặp Hộ quốc Thiên vương nói rằng xứ ấy không thể làm mưa vì viên quận hầu mạo phạm trời đất. Ngộ Không nằng nặc đòi yết kiến Thượng Đế, gặp bốn đại thiên sư ngoài cửa điện cũng nói vùng ấy không thể làm mưa. Nhưng Ngộ Không mặc kệ, quyết phải vào tâu Thượng Đế.

Thái độ kiên quyết của Ngộ Không cho thấy hai điều: một là lòng từ bi của người tu luyện, muốn cứu vớt sinh linh trong đại nạn; và hai là cái tâm nóng vội, mà theo lời  Cát Tiên Ông là “ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung” của Tôn Ngộ Không. Cứu độ chúng sinh, ai mà chẳng muốn, nhưng cứu như thế nào, làm sao để cứu, phải lắng lòng tra rõ căn nguyên. 

Câu trả lời của Thượng Đế đã khiến Ngộ Không tỉnh ngộ:

“– Ba năm trước đây, vào ngày hai mươi nhăm tháng mười hai, trẫm xuất hành đi du lãm muôn phương, ngao du ba cõi, trẫm thấy tên Thượng Quan ấy đang làm việc bất nhân, quẳng những thứ để thanh khiết cúng Thượng Đế cho chó ăn, miệng lại nói những lời bẩn thỉu, mắc tội mạo phạm. Trẫm lập tức sai làm ba việc ở trong điện Phi Hương. Các ngươi hãy dẫn Tôn Ngộ Không vào xem, nếu thấy ba việc đó đổ hỏng cả thì sẽ xuống chiếu cho phép làm mưa. Bằng không thì đừng có nói cho rườm lời.

Khi bốn thiên sư dẫn Hành Giả vào trong điện Phi Hương xem xét, thấy có một tòa núi gạo cao chừng mười trượng, một tòa núi bột cao chừng hai mươi trượng. Bên tòa núi gạo có một con gà nhỏ bằng nắm tay đang thủng thẳng mổ gạo ăn. Bên tòa núi bột có một con chó sư tử lông vàng đang thong thả liếm bột. Bên trái kê một chiếc giá sắt, trên giá treo một chiếc khóa vàng dài chừng một thước ba bốn phân. Cần khóa to bằng ngón tay, bên dưới đặt một chiếc đèn đang thắp sáng, ngọn lửa cháy tới cần khóa.

Hành Giả chẳng biết đầu cua tai nheo thế nào, quay lại hỏi thiên sư:

– Như thế là có ý gì nhỉ? Thiên sư đáp:

– Người ấy xúc phạm Thượng Thiên, Thượng Đế bèn nghĩ ra ba việc này. Chừng nào con gà mổ hết gạo, con chó liếm hết bột, ngọn đèn đốt đứt cần khóa, lúc ấy mới làm mưa.

Hành Giả nghe xong sợ hãi tái mặt, không dám thưa chuyện, đành xấu hổ bước ra ngoài điện.”

Con đường duy nhất để tiêu tai, giải nạn

Ngẫm về ba việc Thượng Đế đặt ra ấy, nếu cứ ngồi mà đợi, thì bao giờ nghiệp chướng mới tiêu tan? Phật gia giảng nhẫn chịu thống khổ có thể hoàn trả ác nghiệp, nhưng trong trường hợp này, đợi đến lúc gà mổ hết núi gạo, chó liếm hết núi bột, đèn đốt đứt cần khoá, thì e dân trong quận Phượng Tiên đã chết hết rồi.

Lại nói quận hầu quận Phượng Tiên vốn là người hiền lương, thương dân hết mực, chỉ vì một lần vợ lăng loàn cãi lại, khiến ông giận quá mất khôn, xúc phạm Trời Đất mà thôi. Khi quận quốc bị hạn hán, ông đã thành tâm cúng bái, mong Trời cao thương xót, nhưng vô dụng. Khi nghe tin có pháp sư có thể gọi gió hô mưa, ông vội vã quỳ lạy, khẩn thiết van xin, Đại Thánh chạy đôn chạy đáo giúp đỡ, cũng vô dụng. Tại sao thế? Có phải lòng thành không linh ứng, hay Thần Phật không từ bi với con người chăng? 

Thực ra không phải vậy. Con người trong hoạn nạn chỉ biết kêu van Trời Phật là chưa đủ. Trước khối nghiệp lực to như núi dày như bể ấy, Thần Phật từ bi đã chỉ ra cho con người một lối thoát.

“Bốn thiên sư cười nói:

– Đại Thánh đừng buồn. Việc này chỉ có làm việc thiện mới giải được thôi. Một ý nghĩ thiện, kinh động cả Thượng Thiên, núi gạo núi bột khi ấy sẽ sụp đổ, cần khóa cũng sẽ đứt. Đại Thánh cứ về khuyên hắn theo thiện, thì phúc quả tự khắc sẽ đến.”

Sự việc xảy ra sau đó quả đúng y lời. Quận hầu giật mình nhận lỗi, lạy thề nguyện quy y, tạ ơn trời đất, dân chúng khắp thành đều thắp hương niệm Phật. Ngay lúc đó trên thiên đình, “Hai quả núi gạo và núi bột đều đổ cả. Trong chớp mắt, số gạo và bột đều biến mất, cần khóa cũng đứt rời.” Quả đúng là:

“Một ý nghĩ nảy sinh 
Trời đất đều hay biết 
Thiện ác nếu không báo 
Trời đất chẳng công sao?”

Thượng Đế nghe tin vô cùng hoan hỉ, lập tức sai Thần tướng làm mưa. Chi tiết này khiến chúng ta minh bạch, trước đây Thượng Đế kiên quyết không làm mưa đâu phải bởi Ngài không thương xót chúng sinh, mà Ngài chỉ hành sự thuận theo Thiên đạo. Thiện ác hữu báo là thiên lý, nếu không thì người ta có thể buông lung làm ác mà không sợ báo ứng sao? Thượng Đế chỉ mong chúng sinh sớm cải tà quy chính, bỏ ác theo thiện, như thế thiên thần khắp nơi sẽ tự nhiên phù trì.

Ngẫm lại trong nạn này, quan dân quận Phượng Tiên khấn Trời khấn Đất, cầu cứu khắp nơi mà chẳng ăn thua, thế nhưng chỉ cần hướng nội mà tu, mọi việc đều hoá giải. Vậy nên trong lịch sử, khi quốc gia gặp thiên tai, các bậc quân chủ chí thành đều biết sám hối lỗi lầm, viết “Tội kỷ chiếu” nhận tội trước Thượng Thiên, bày tỏ lòng thành nguyện quy chính. Lịch sử có ghi chép nhiều trường hợp Thiên nhân cảm ứng vô cùng linh nghiệm.

Ví dụ: Tháng 4 năm Kỷ Tị (1449), Vua Lê Nhân Tông xuống chiếu tự trách mình. Tờ chiếu viết:

“Trẫm gặp phải gia biến, bên trong thì mẫu hậu coi chầu, bên ngoài thì đại thần giúp việc, mà liền năm đại hạn, lúa má mất mùa, dân chúng buồn than. Nghĩ kỹ tội ấy, hẳn có nguyên do”. 

“Có phải trẫm không biết dốc niềm thành kính để được hưởng lòng trời, không biết lo tròn đạo hiếu để thờ phụng tông miếu, không ban ân huệ cho khắp muôn dân nên đến nỗi thế chăng? Có phải trẫm không biết sử dụng nhân tài, những kẻ được dùng đều là loại hèn kém mà đến nỗi thế chăng? Có phải do nạn hối lộ công khai, tệ phi tần lộng hành mà đến nỗi thế chăng? Hay là do trẫm không dè dặt tiêu dùng, thường lạm tiêu bừa, để hại của dân mà đến nỗi thế chăng? Hay là các đại thần giúp việc chưa trọn đạo điều hòa âm dương mà đến nỗi thế chăng? Hay là các tướng soái phiên thần không biết yêu thương quân dân, quen thói đục khoét mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì các thú lệnh không biết vỗ nuôi nhân dân, chỉ lo bòn vét mà đến nỗi thế chăng? Hay là quan coi hình ngục không giữ công bằng, chỉ lo xử nặng, kẻ nào đút lót thì tha, để oán khí bốc lên mà đến nỗi thế chăng? Có phải các quan thừa hành chỉ chuộng hư văn, để ân trạch của vua bị tắc lại ở trên, tình của kẻ dưới không thấu lên trên được mà đến nỗi thế chăng? Hay là các nhà quyền quý cậy thế ra oai để dân mọn bị hại mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì chọn lựa người hiền, cất nhắc người sót chưa được thi hành, để thói cầu cạnh chạy chọt ngày một tệ hại mà đến nỗi thế chăng? Hay là do chủ tướng đảo lộn quân công, lấy không làm có, làm hại đạo công mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì chưa thi hành đầy đủ nhân chính, để dân chúng vẫn còn nhiều người thất nghiệp mà đến nỗi thế chăng? Hay là do đầm cá hoang khô, ngạch thuế chưa giảm dân phải nộp nhiều mà đến nỗi thế chăng? Có phải vì con cháu các bậc công thần cố cựu chưa được bổ dùng hết để đền đáp công lao họ mà đến nỗi thế chăng?”

“Tất cả tội lỗi trên chồng chất lại, đã làm tổn thương hòa khí, nếu không xét lời dạy sửa lỗi lầm, làm tròn đạo tu dưỡng mình thì làm sao trên có thể lay chuyển được lòng trời, dưới có thể cứu vớt được nạn dân?” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Sử sách chép rằng, sau khi tờ chiếu ban xuống, đêm hôm ấy có mưa.

“Người có lòng thiện, trời cũng theo về”. Tiếc là người hiện đại hôm nay, ít ai còn hiểu và tin đạo lý ấy. Một bộ phận bị ảnh hưởng bởi thuyết vô Thần, không tin có Trời Phật, khi gặp vấn đề chỉ biết dùng khoa học và tri thức ở tầng vật chất bề mặt để lần tìm nguyên do. Kết quả lắm khi mắc sai lầm, oán trách người khác hoặc “điều kiện khách quan”, mãi kẹt trong hoạn nạn. Một bộ phận khác cũng tin có Thần Phật, nhưng chỉ biết tụng kinh cúng bái, lễ lạt khắp nơi, đôi khi còn chiêu vời ma quỷ. Vì chưa đắc được yếu lĩnh hướng thiện tu tâm, nên không ít người mất đi tín tâm, càng ngày càng tạo thêm nghiệp chướng.

Công đức của Tề Thiên Đại Thánh nằm ở hai chữ gì?

Trong câu chuyện ở quận Phượng Tiên, Tôn Ngộ Không tuy chẳng phải liều mình diệt quái trừ ma, cũng không phải là người trực tiếp làm mưa cứu vớt dân chúng, dường như chỉ là một nhân vật trung gian kết nối đôi bên, nhưng lại lập nên công đức vô lượng. Công đức ấy là gì?

Đó là hai chữ tiết lộ ngay ở tên hồi 87: “khuyến thiện”. Hai chữ “khuyến thiện” này tưởng như rất bình thường mà lại quan trọng lắm. Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng chẳng phải cũng đội ơn Bồ Tát khuyến thiện, nhờ đó thoát khỏi nạn Trời, được hộ vệ Đường Tăng sang Tây Thiên, tu thành chính quả đó sao?

Người tu luyện, thậm chí ngay cả Thần Phật xuất tâm từ bi, muốn cứu độ chúng sinh cũng không thể tuỳ tiện giải trừ nghiệp chướng cho họ, mà đầu tiên cần khuyến thiện. Khuyên bảo con người bỏ ác theo thiện, ấy là chỉ ra con đường để họ được cứu. Một số người sẵn có căn lành, nói đôi lời là thấu hiểu. Nhưng cũng có những người tâm thần mê muội, chẳng dễ nghe theo, có khi còn làm hại người đang khuyến thiện mình nữa. Ví như Hồng Hài Nhi trước khi chịu quy y làm Thiện Tài Đồng Tử, còn hung hãn vung giáo nhắm ngực Bồ Tát mà đâm, sau khi thụ giới rồi thú tính vẫn chưa hết, lại vớ lấy ngọn giáo đâm thẳng mặt Bồ Tát.

Với những chúng sinh khó ngộ như thế, người khuyến thiện chẳng những cần có tâm đại từ bi, mà còn phải có đủ pháp lực, đủ dũng khí để hàng phục ma quỷ sau lưng họ nữa. 

Trên thế giới hiện nay, có một nhóm người tu luyện cũng đang không nề hiểm nguy, từ bi khuyến thiện để người thế gian được cứu. Đó là những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đang khuyên nhủ thế nhân, đặc biệt là người Trung Quốc, hãy biết kính Trời tín Phật, biết Chân Thiện Nhẫn là tốt, đừng nghe theo lời dối trá của ĐCSTQ mà phỉ báng bức hại Phật Pháp, tạo tội lớn vô biên. Pháp Luân Công là Đại Pháp cao đức của Phật gia; kẻ chống lại Phật Pháp chính là ma quỷ. Người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp khuyên nhủ người Trung Quốc thoái xuất khỏi các tổ chức của ĐCSTQ chính là để giúp họ không đứng cùng hàng ngũ với ma quỷ, tránh được kiếp nạn khi Trời diệt Trung Cộng về sau. Từ đầu đến cuối, đó đều là việc làm đại thiện, là từ bi khuyến thiện, chứ không phải thứ gọi là “làm chính trị” như ĐCSTQ bôi nhọ, tuyên truyền. Để giúp người Trung Quốc tỉnh ngộ, biết bao người tu luyện đã đối diện với nguy cơ bị bắt giữ, tra tấn, bức hại, thậm chí là mất đi sinh mạng. Nếu không nhờ đức tin kiên định và tâm đại thiện tu xuất lai, hỏi mấy ai có thể xả thân khuyến thiện như thế?

***

Quay trở lại câu chuyện “Quận Phượng Tiên khinh trời bị hạn; Tôn Đại Thánh khuyến thiện làm mưa”, ta không khỏi cảm khái trước lòng từ bi của Trời Phật. Thần Phật đâu cần con người cúng bái trọng hậu, càng chẳng màng “nghìn vàng tạ ơn”, việc khó đến đâu cũng có thể giúp đỡ, chỉ nhìn một cái tâm quy Thiện của con người mà thôi! Lòng người không chuyển, Thần Phật cũng hết cách. Muốn thoát nạn, muốn hồi thăng, trước tiên hãy tự hỏi lòng trước đã!

Quả đúng là:

“Phật ở Linh Sơn lọ phải cầu
Linh Sơn tại tâm có xa nào. 
Ai ai cũng có Linh Sơn tháp
Chân tháp tu hành tốt biết bao!”

Thanh Ngọc

Chú thích:

  • Bài viết có tham khảo bản dịch Tây Du Ký của Như Sơn, Mai Xuân Hải, Phương Oanh, Nhà xuất bản Văn học.
  • Quý độc giả muốn tìm hiểu về các đạo lý tu luyện, giải khai những bí ẩn vũ trụ và nhân sinh, xin mời đọc cuốn thiên cổ kỳ thư “Chuyển Pháp Luân” của đại sư Lý Hồng Chí.
  • Ảnh: Phim Tây Du Ký 1986. 

>> Xem trọn bộ Giải mã Tây Du Ký