Từ xưa đến nay, dân gian đều lưu truyền một truyền thuyết rằng, người chết trước khi được đầu thai chuyển thế nhất định phải đi qua một con đường u minh gọi là Hoàng Tuyền lộ để đến sông Vong Xuyên.

Trên con sông ấy có một cây cầu Nại Hà, đi qua cầu Nại Hà lại gặp Vọng Hương Đài. Nơi đó có một bà lão phân phát Canh Mạnh Bà cho các vong hồn. Bên bờ sông Vong Xuyên, đầu cầu Nại Hà có một tảng đá lớn gọi là “Tam Sinh Thạch”. Tương truyền rằng, trên Tam Sinh Thạch có ghi chép lại kiếp trước, kiếp này và kiếp sau của một linh hồn.

Linh hồn trước khi đầu thai, đứng trên Vọng Hương Đài trông về phía xa, đưa mắt nhìn về phía gia đình, người thân ở dương gian một lần cuối sau rồi uống bát canh Mạnh Bà cho quên hết mọi chuyện buồn vui ở kiếp trước, đồng thời cũng mở ra một kiếp trầm luân mới.

Tam Sinh, theo như bên Phật gia thì là tam thế chuyển sinh, tức là kiếp trước, kiếp này, kiếp sau. Phật gia cho rằng, sinh mệnh là vĩnh hằng, cho nên sinh mệnh có luân hồi chuyển thế. Kiếp trước là nhân, kiếp này là quả, kiếp sau là duyên. Nhân duyên tụ hợp, duyên diệt duyên khởi, nợ tình duyên còn phải hoàn trả, oan trái…hết thảy đều được ghi lại rõ ràng trên Tam Sinh Thạch –  Đá Ba Đời.

Truyền thuyết về Tam Sinh Thạch (Đá Ba Đời)

Tương truyền rằng các chữ trên Tam Sinh Thạch đều là màu đỏ (Ảnh: Internet)
Tương truyền rằng các chữ trên Tam Sinh Thạch đều là màu đỏ (Ảnh: Internet)

Trong cuốn “Cam trạch dao. Quyển ngũ. Viên Quan”, triều đại nhà Đường có ghi rằng: “Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luận, tàm quý tình nhân viễn tương phóng, thử thân tuy dị tính trường tồn.” Đoạn văn này kể về truyền thuyết tam thế chuyển kiếp của một vị tăng nhân gặp lại bạn cũ. Điều truyền đạt chính là bạn bè hết lòng tuân thủ ước định của hai người, làm cảm động tâm can con người.

Theo ghi chép, những năm tháng cuối thời nhà Đường, tại chùa Huệ Lâm ở Lạc Dương có hòa thượng tên Viên Quan, biết trồng trọt, có nhiều lương thực và của cải. Ngoài việc am hiểu Phật học ra, ông còn rất tinh thông âm luật. Người đương thời gọi ông là Phú hòa thượng, nhưng không ai biết lai lịch của ông.

Cũng thời ấy, Lý Nguyên vốn thuộc dòng dõi quan to trong triều. Trong năm Thiên Bảo (niên hiệu Đường Huyền Tông), cả ngày ông ăn uống vui chơi, say sưa trong ca múa và rượu, mặc sức hưởng lạc. Cha của Lý Nguyên là Lý Khải canh giữ ở biên cương, về sau bị An Lộc Sơn giết hại.

Từ đó về sau, Lý Nguyên từ bỏ cuộc sống ăn chơi trước đây, ẩn cư ở chùa Huệ Lâm, đồng thời ông đem toàn bộ gia sản quyên tặng cho chùa Huệ Lâm, phát thệ nguyện không cầu công danh, bổng lộc, không kết hôn, không thuê mướn nô bộc.

Bởi vậy, Lý Nguyên và Viên Quan trở thành đôi bạn tốt, không có gì giấu nhau. Hai người ngày ngày ngồi nói chuyện cùng nhau, từ sáng sớm đến khi hoàng hôn, không ai biết rõ họ nói những gì. Cứ như vậy, họ chung sống và kết giao bạn bè ba mươi năm.

Một hôm họ hẹn nhau đi chơi Thục Châu, đến núi Nga Mi ở Thanh Thành tìm Đạo và xin thuốc. Viên Quan muốn đi qua Trường An nên chọn tuyến đường từ Tà Cốc đi ra. Lý Nguyên muốn đi qua Kinh Châu, nên chọn tuyến đường từ Tam Hiệp đi bằng đường thủy. Họ liên tục tranh luận cùng nhau, đến nửa năm trời mà vẫn không thống nhất ý kiến. Lý Nguyên khăng khăng giữ ý kiến của mình nên Viên Quan đành phải nói: “Đi đường nào thực sự không thể theo ý muốn cá nhân, hãy đi đường thủy từ Tam Hiệp đi”.

Hôm ấy đến Nam Phổ, thuyền dừng lại ở bên bờ. Họ gặp một người phụ nữ mang thai đang múc nước ở bên bờ sông. Lúc ấy, Viên Quan rơi lệ nói với Lý Nguyên: “Tôi không muốn đi con đường này chính là vì sợ gặp người phụ nữ này. Người phụ nữ này họ Vương, kiếp sau tôi phải chuyển sinh thành con của người phụ nữ này. Cô ấy mang thai đã ba năm mà vẫn chưa sinh nở, chính là vì chờ tôi đầu thai. Hôm nay đã gặp người phụ nữ này, tức là mệnh của tôi đã đến lúc tận, cũng chính là luân hồi chuyển kiếp mà Phật gia thường nói.”

Viên Quan lại nói: “Mong ông giúp tôi tụng mấy câu bùa chú để tôi mau được đầu thai. Ông cho thuyền dừng lại vài ngày rồi chôn tôi dưới chân núi. Sau ba ngày đứa trẻ ra đời thì ông đến nhà họ Vương hỏi thăm, nếu như đứa trẻ vừa gặp ông đã cười tức là nó có quen biết ông. Đêm đó đứa trẻ ấy cũng sẽ chết đi. Mười hai năm sau, vào đêm trung thu, ở chùa Thiên Trúc tại Hàng Châu, chúng ta sẽ gặp lại nhau”.

Lý Nguyên lúc này vô cùng hối hận vì đã khăng khăng lựa chọn con đường này. Trong lòng ông cảm thấy cực kỳ bi thương. Thế rồi, ông dặn dò người phụ nữ kia chuẩn bị chu đáo cho ngày sinh nở. Còn Viên Quan thì đi tắm gội sạch sẽ rồi thay đồ mới, đêm hôm đó vừa lúc Viên Quan tọa hóa thì người phụ nữ kia cũng hạ sinh một bé trai. Ba ngày sau, Lý Nguyên liền tới thăm hài nhi mới sinh, quả nhiên đứa trẻ vừa nhìn thấy ông đã nở nụ cười. Đêm hôm đó, đứa trẻ cũng qua đời. Lý Nguyên bèn đem câu chuyện kể lại với người phụ nữ họ Vương và chôn cất đứa trẻ.

Mục đồng cưỡi trâu (Ảnh: Sưu tầm)
Mục đồng cưỡi trâu (Ảnh: Sưu tầm)

Mười hai năm sau, vào ngày trung thu, Lý Nguyên tới chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu như Viên Quan đã hẹn năm xưa. Đang không biết tìm bóng dáng Viên Quan ở đâu, Lý Nguyên nhìn thấy trên bãi cát bên bờ sông có một chú bé cưỡi trâu (mục đồng) ngâm khúc “trúc tri từ”, cưỡi trâu vừa đi vừa gõ vào sừng trâu, khi đến trước chùa Thiên Trúc thì nhận ra chính là Viên Quan.

Lý Nguyên chào nói: “Quan Công, ông có khỏe không?”

Mục đồng trả lời: ““Ông đúng là người biết giữ chữ tín ước hẹn. Bây giờ chúng ta đi con đường khác nhau, không nên gần nhau nữa. Duyên kiếp của anh vẫn chưa tận, nên hy vọng rằng anh sẽ cố gắng tu hành, nếu có thể cố gắng tận lực tu hành, chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau thôi”.

Lý Nguyên vì không thể tiếp tục làm bạn với Viên Quan như những tháng ngày trước đây được nữa, nên đành bất lực nhìn theo Viên Quan mà lã chã rơi lệ.

Viên Quan vừa cưỡi trâu đi vừa ngâm nga bài trúc chi từ, hình bóng mỗi lúc một xa dần. Dù cho núi non trùng điệp, sông nước mênh mông nhưng vẫn có thể nghe được giai điệu ngân nga. Khi ông đến trước chùa thì nghe ca là: “Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luận. Tàm quý tình nhân viễn tương phóng, thử thân tuy dị tính trường tồn.” (Tạm dịch: Tôi chính là linh hồn thực sự của Đá Ba Đời, tôi không còn muốn nói chuyện ngắm trăng, ngâm thơ, đàm luận gì nữa. Thật vui khi người bạn thân thương từ xa đến thăm viếng. Thân xác thịt của tôi tuy đã đổi khác nhưng tôi vẫn là tôi.)

Khi rời chùa thì lại nghe thấy lời ca là: “Thân tiền thân hậu sự mang mang, dục thoại nhân duyên khủng đoạn tràng. Ngô Việt khê sơn tầm kỷ biến, khước tầm yên trạo thượng cù đường.” (Tạm dịch: Chuyện kiếp trước và kiếp sau thật là mờ mịt. Muốn nói hết nhân duyên nhưng sợ đau buồn đứt ruột đứt gan. Tôi đã tìm khắp non sông Ngô và Việt, nhưng cuối cùng lại khua chèo trở lại Cù Đường – một ngọn đèo ở Tam Hiệp).

Vì sao Tam Sinh Thạch mang ý nghĩa nhân duyên tiền định?

“Tam Sinh Thạch” chính là có nguồn gốc từ trong câu “Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn” mà Viên Quan ca, dựa theo nhân duyên giữa Lý Nguyên và Viên Quan bao gồm Viên Quan, đứa trẻ sơ sinh, đứa trẻ cưỡi trâu (mục đồng), vừa đúng là ba đời. Vì thế, người đời sau gọi tảng đá lớn ở bên sông chỗ hai người gặp nhau khi xưa là “Tam Sinh Thạch” (Đá Ba Đời). Và từ đó, Tam Sinh Thạch cũng được dùng để ẩn dụ nhân duyên tiền định.

Bia văn "Tam sinh thì tích " của hòa thượng Viên Trạch, nhà Đường (Ảnh: Internet)
Bia văn “Tam sinh thì tích ” của hòa thượng Viên Trạch, nhà Đường (Ảnh: Internet)

Văn học gia triều nhà Tống, Tô Đông Pha trong cuốn “Tăng Viên Trạch truyện” cũng viết về việc Lý Nguyên và Viên Quan hết lòng giữ chữ tín, tuân thủ ước định, nhưng vị tăng nhân này trong truyện của Tô Đông Pha tên là Viên Trạch mà không phải là Viên Quan.

Ở ngã tư của núi Nam Liên Hoa và Núi Phong Đông cũng có tảng đá “Tam Sinh Thạch” và là một trong 16 di tích ở Tây Hồ. Người ta nói rằng đó là nơi ngày xưa Viên Quan gặp Lý Nguyên. Tảng đá này cao khoảng 10 m, rất dốc và bên trên tảng đá có khắc ba chữ Triện rất to “Tam Sinh Thạch”. Trên tảng đá có bia văn “Tam sinh thì tích” của hòa thượng Viên Trạch, nhà Đường.

Theo Secretchina
Mai Trà biên dịch

 Xem thêm:

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay: