“Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” vốn là câu phương ngôn quen thuộc của người Á Đông. Từ bà bán rau ngoài chợ cho đến ông đạp xích lô bên đường, từ người học vấn ít cho đến học vấn nhiều, thì khi cảnh đời éo le người ta vẫn buột miệng: “Ác giả ác báo”.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, trong các đệ tử của Ngài có một nữ tỳ kheo chứng đắc được quả vị La Hán. Một lần, vị đệ tử này chia sẻ về những thăng trầm trong cuộc sống của bà, kể rằng vì sao bà lại cưới tới bốn người chồng và cả bốn đều qua đời, và tại sao cuối cùng bà lại có thể đắc được quả vị. Câu chuyện này cũng được ghi chép trong cuốn “Hiền Ngu Kinh”.

Dưới đây là cuộc đời và những trải nghiệm nhân sinh vô cùng kỳ lạ của nữ tỳ kheo: 

Cuộc hôn nhân đầu tiên

Tôi sinh ra trong một gia đình Bà La Môn danh giá. Người chồng đầu tiên của tôi cũng xuất thân trong gia đình Bà La Môn. Anh thông minh, lanh lợi, khi nghe nói tôi là một cô gái đoan trang, hiền từ, anh đã gửi lễ tới cầu hôn. Chúng tôi nên duyên vợ chồng và sớm sinh được một bé trai kháu khỉnh.

Một vài năm sau, cha mẹ chồng tôi lần lượt qua đời. Rồi tôi lại có thai. Biết mình sắp tới ngày sinh nở, tôi nói với chồng: “Em thấy trong người khác lạ, có lẽ sắp đến ngày trở dạ. Em sợ có điều gì bất trắc khi chỉ có hai vợ chồng mình, hay chúng ta về nhà cha mẹ em một thời gian”. Chồng tôi đã đồng ý. 

Đi được nửa đường, bụng tôi bắt đầu lên cơn đau, anh bèn đưa tôi tới nằm nghỉ dưới gốc cây. Bởi người dân quanh vùng quan niệm rằng thân thể phụ nữ khi sinh con sẽ không sạch sẽ, nên đêm đó vợ chồng tôi nằm xa nhau một chút để ngủ. Nửa đêm, tôi trở dạ và sinh con, bị ra rất nhiều huyết. Rắn độc ngửi thấy mùi máu tươi liền tiến lại gần… Đêm đó, tôi gọi anh nhiều lần nhưng mãi không thấy anh trả lời. 

Trời vừa tảng sáng, tôi cố gắng nén đau tới nắm lấy bàn tay chồng gọi anh dậy, mới hay anh đã bị rắn độc cắn chết từ đêm qua. Nhìn thấy tình cảnh bi thảm đó, tôi đau đớn tới đứt từng khúc ruột mà ngất đi. Đứa con trai đầu lòng nhìn thấy cha chết thì sợ hãi oà khóc, tiếng khóc thảm thiết bi thương khiến tôi dần tỉnh lại. Vì đây là nơi hoang dã không một bóng người nên tôi đành đưa con lên đường. Tôi để con trai lớn ngồi trên vai và bế bé mới sinh trong tay, vừa đi nước mắt vừa tuôn rơi. Cảnh tượng xung quanh vô cùng hoang tàn vắng vẻ, càng đi càng hiểm trở hoang vu. 

Một con sông lớn ngăn cản mẹ con tôi tiến về phía trước. Con sông rất sâu và rộng, nhưng lại không có nổi một cây cầu bắc qua. Tôi không thể đưa hai đứa trẻ qua sông cùng một lúc nên nghĩ ra một cách: Tôi để cậu con trai lớn trên bờ rồi bế bé con mới sinh qua sông trước. Sau khi tới nơi, tôi để bé trên bờ và trở lại mang cậu con trai lớn qua sông. Nhìn thấy mẹ đang quay lại đón, con trai tôi lon ton chạy xuống dòng sông đang chảy xiết. Thằng bé đứng không vững nên ngã nhào xuống và bị nước cuốn trôi. Tôi vội chạy đến cố nắm lấy tay con, nhưng đã quá muộn màng… Thấy thằng bé dần dần bị nuốt chửng trong dòng nước mà tôi đau đớn như đứt từng khúc ruột. 

Quay trở lại bờ, tôi không nhìn thấy đứa con mới sinh đâu nữa, chỉ còn lại một vệt máu vương trên mặt đất. Thì ra, con tôi đã bị chó sói ăn thịt mất rồi! Chưa nguôi ngoai nỗi đau mất chồng, tôi lại đột nhiên mất đi hai người con trai chỉ trong khoảnh khắc. Tôi quỳ xuống, khóc gào tới lúc hôn mê, phải rất lâu, rất lâu sau đó tôi mới có thể tỉnh dậy.

Chỉ trong vẻn vẹn một ngày mà tôi mất cả chồng, cả con, chỉ trơ trọi lại một thân một mình. Tôi gắng gượng đi về nhà mẹ đẻ. Trên đường tôi gặp một người bạn của cha tôi. Ông hỏi tôi từ đâu đến và sao lại tiều tụy mệt mỏi tới vậy. Tôi kể lại những bất hạnh mà tôi vừa gặp phải cho ông.

Ông cụ lắng nghe hồi lâu, rồi thương cảm mà vỗ lên vai tôi rồi khóc ròng cho hoàn cảnh bơ vơ không nơi nương tựa ấy. Tôi hỏi ông về tình hình cha mẹ tôi. Ông đáp: “Gần đây xảy ra trận hỏa hoạn, và điều bất hạnh là cha mẹ cô đều đã qua đời”. Nghe thấy những lời này, tai tôi ù đi, mắt tối đen không nhìn thấy gì, rồi tôi ngất đi vì đau buồn.  

Ảnh minh họa: Giriblog.

Cuộc hôn nhân thứ hai

Ông lão thương cảm cho hoàn cảnh của tôi nên mang tôi về nhà, chăm sóc chu đáo và coi tôi như con gái. Có một vị Bà La Môn thấy tôi tướng mạo đoan trang nên muốn cưới tôi làm vợ. Tôi đồng ý kết hôn với anh, và chẳng mấy chốc tôi lại có thai.

Vào ngày tôi chuyển dạ, chồng tôi uống rượu say ở bên ngoài mãi đến khi trời tối mới trở về. Lúc đó, tôi ở trong nhà một mình và có dấu hiệu trở dạ nhưng vẫn chưa sinh được. Chồng tôi đập cửa mạnh và gọi to, nhưng vì đang chuyển dạ sinh con nên tôi không ra mở cửa cho anh được.

Chồng tôi tức giận đạp cửa xông vào. Chẳng ngờ anh như mất lý trí, túm lấy đứa con trai mới chào đời, làm nó ngộp thở tới chết và… nấu chín ép tôi ăn.

Đau đớn tột cùng, tôi cự tuyệt từ chối không ăn cốt nhục của mình. Chồng tôi lại càng như điên dại, đánh đập tàn nhẫn ép tôi ăn cho bằng được. Tôi vô cùng chua xót, nước mắt ngấn lệ tuôn rơi lã chã, cảm thấy duyên phận của mình ở nơi đây đã tận, tôi âm thầm bỏ đi.

Cuộc hôn nhân thứ ba

Tôi trốn đến đất nước Ba La Nại và ngồi ngoài thành nghỉ ngơi. Trong thành có con trai của một người trưởng giả, vợ anh ta vừa qua đời và được chôn cất tại một nghĩa trang bên ngoài thành. Vì nhớ thương vợ, mỗi ngày anh lại ra nghĩa trang nơi vợ an nghỉ ngồi khóc. 

Khi nhìn thấy bộ dạng khổ sở của tôi, anh hỏi: “Cô là ai, tại sao lại ngồi bên vệ đường một mình như vậy?”. Tôi kể cho anh những điều khốn cùng mình đã trải qua. Thương cảm cho hoàn cảnh cô đơn bơ vơ của tôi, anh mời tôi về nhà. Sau đó, chúng tôi trở thành vợ chồng. Nhưng chỉ sau vài ngày, người chồng thứ ba của tôi lâm bệnh nặng và qua đời.

Cuộc hôn nhân thứ tư

Theo phong tục của đất nước Ba La Nại, những gì mà người ta yêu thương sẽ được chôn cất cùng họ sau khi chết. Thế là tôi được chôn theo người chồng thứ ba sau khi anh qua đời. Có lẽ số mệnh của tôi chưa tận nên khi đó có một nhóm trộm mộ tới hòng tìm kiếm vàng bạc của cải. Sau khi ngôi mộ được mở ra, tên trộm cầm đầu nhìn thấy tôi xinh đẹp, nên ép tôi phải kết hôn với hắn. 

Vài tháng sau, tên trộm ra ngoài ăn cắp và bị bắt rồi chém đầu. Thủ hạ mang xác anh ta về, và theo phong tục địa phương, lại một lần nữa tôi bị chôn cùng với tên trộm. Tôi nằm trong mộ ba ngày và không chết. Những con cáo và chó hoang đã đến đào mộ và muốn ăn xác chết. Vì vậy, tôi may mắn trốn thoát.

Quyết tâm tu hành

Tôi tự vấn bản thân: Rốt cuộc tôi đã tạo ra nghiệp gì mà phải chịu quá nhiều nỗi đau trong thời gian ngắn như vậy? Tôi nên dành phần đời còn lại của mình ở đâu?

Tôi nhớ lại câu chuyện về Hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm xuất gia tu hành, thành tựu Phật quả, hiểu được những việc quá khứ và tương lai. Thế là tôi quyết định tìm đến nơi Đức Phật ở để tìm chốn nương tựa cho những ngày còn lại. 

Thế tôn như đoán biết được tôi sẽ đến nên Ngài bước ra đón. Lúc ấy tôi không mảnh vải che thân, ngồi trên nền nhà, ngượng ngùng dùng tay che ngực.

Ảnh minh họa: Mettapage.

Đức Phật nói với ngài A Nan: “Con hãy mang quần áo cho cô ấy”. Tôi mặc quần áo và chắp tay hành lễ với Thế tôn, thuật lại những khổ nạn đã vượt qua. Cuối cùng, tôi khẩn cầu Ngài: “Con cầu mong Thế tôn thương xót, thu nhận con làm đệ tử”. Đức Phật bảo ngài A Nan đưa tôi tới gặp bà Mahāpajāpatī Gotamī để được thụ giới.

Nữ tôn giả thu nhận tôi và thuyết Tứ Thánh Đế pháp cho tôi. Ấy là bốn chân lý cao cả, là kinh nghiệm giác ngộ của Đức Phật Thích Ca, cũng là bốn chân lý của kiếp người: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Sau khi nghe Pháp, tôi tuân thủ giới luật, khắc khổ tu luyện, rồi đắc quả vị La Hán, xuất hiện thần thông, có thể nhìn thấu những chuyện xảy ra trong tiền kiếp. 

Tội nghiệp kiếp trước, quả báo kiếp này

Bây giờ nhìn lại, quả báo của kiếp này quả thật là tội nghiệp kiếp trước tạo ra. Rốt cuộc tôi đã vì loại nghiệp gì mà kiếp này phải chịu những thống khổ tột cùng như vậy? Đó là một câu chuyện dài… 

Cách đây đã lâu lắm rồi, ở làng nọ có vị trưởng giả, gia cảnh phú quý giàu sang nhưng không có con. Sau đó, ông cưới một người tiểu thiếp, nàng chỉ là con gái của một thương nhân bình thường nhưng dung mạo vô cùng xinh đẹp. Người tiểu thiếp nhanh chóng được trưởng giả coi trọng và yêu thương. Không lâu sau, nàng sinh được một bé trai. Cậu bé được cha rất mực thương yêu và chăm sóc coi như báu vật. 

Chứng kiến cảnh tượng này, người vợ cả của ông vô cùng ghen tức. Cô ngày đêm suy tính đến mất ăn mất ngủ, trong lòng thầm nghĩ: “Ta xuất thân trong gia đình quý tộc, nhưng tiếc là không có con nối dõi. Giờ cô ta sinh được con trai, đương nhiên sẽ kế thừa gia sản của nhà này. Sau này có lẽ một đồng xu ta cũng không có, cả đời sẽ thống khổ trắng tay. Ta phải sát hại thằng bé mới được!”.

Sau nhiều ngày suy nghĩ, người vợ cả dùng một cây trâm nhỏ đâm vào thóp của đứa bé mới sinh, chẳng bao lâu sau đứa bé qua đời. 

Người tiểu thiếp vô cùng đau lòng, ngất lên ngất xuống. Sau khi tỉnh lại, cô nghi ngờ là người vợ cả gây ra, nên tìm tới chất vấn: “Tại sao chị lại có thể ác độc như vậy, giết hại cả một đứa trẻ mới lọt lòng?”.

Người vợ cả nói: “Tại sao cô lại có thể phỉ báng tôi như thế? Nếu con cô là tôi giết, thì kiếp sau chồng tôi sẽ bị rắn độc cắn mà chết, có con thì con bị nước cuốn trôi, bị sói hoang ăn thịt, tôi sẽ bị chôn sống, phải tự ăn thịt con, cha mẹ đẻ cả nhà đều chết cháy”.

Người vợ cả đó chính là tôi. Vì tôi không tin vào nhân quả báo ứng, không tin làm việc xấu có thể tạo nghiệp nên tôi không ngại ngùng mà thốt ra lời thề để bao biện cho bản thân. Những lời thề trong kiếp đó đều là báo ứng của kiếp này. 

Kiếp này tôi có cơ hội gặp được Thế tôn, được thoát khỏi sinh tử luân hồi. Ấy cũng là nhờ một mối nhân duyên trong tiền kiếp. Kiếp ấy, tôi xuất sinh ở đất nước Ba La Nại, nơi đó trong các ngọn núi cao có rất nhiều Bích Chi Phật, chân nhân, Thần tiên. Có một vị Bích Chi Phật thường vào trong thành hóa duyên.

Ảnh minh họa: Damanady.

Khi ấy tôi là vợ của một vị trưởng giả giàu có. Khi nhìn thấy sự uy nghiêm và tường hòa của Phật, trong lòng tôi vô cùng sùng kính nên phát tâm cúng dường ông. Bích Chi Phật tiếp nhận đồ cúng dường của tôi, rồi Ngài bay lên không trung, thân xuất ra nước lửa, cảnh tượng trông vô cùng mỹ diệu. Sau khi nhìn thấy cảnh tượng đó, tôi phát nguyện: “Kiếp sau tôi nhất định sẽ tu đắc chính quả, để có thể giống như Ngài”.

Vì cúng dường Tam Bảo, phát nguyện tu hành nên kiếp này tôi mới được gặp Đức Như Lai, tu thành quả vị La Hán. Mặc dù đã đắc được Phật quả, nhưng vào mỗi thời mỗi khắc trên thân thể tôi đều có cảm giác như có chiếc kim sắt nóng bỏng đâm vào đỉnh đầu, lại có lúc như từ bàn chân đâm lên, ngày đêm đau đớn khó chịu vô cùng. Những tội nghiệp bản thân đã gieo nên, cho dù trải qua vô số khổ nạn để hoàn trả vẫn chưa đủ, bản thân còn cần tự nếm trải những điều đã gây ra…

***

Câu chuyện kể trên giúp ta hiểu rằng tất cả những gian nan, khó nạn, tội khổ mà ta gặp phải đơn giản đều là quả báo, là nghiệp báo bản thân đã gieo từ tiền kiếp. Một niệm thành tâm kính Phật, nhất hành có thể đưa tới phúc báo. Một nguyện phát ra quyết tâm tu hành giống như ánh vàng kim lóe sáng, giúp ta thoát khỏi khổ nạn trần gian, cũng là chìa khóa mở ra cơ hội trở về cho chúng ta. 

Kiên Định
Theo Secretchina