Mẫu Đơn và những nỗi lòng thi nhân…

Trong bài “Mẫu Đơn hồng”, niềm trắc ẩn nào đã khiến Vương Duy ngậm ngùi khi biết nỗi đoạn trường của hoa:

“Nhàn tĩnh khoe vẻ lục,
Đậm tươi sắc áo hồng.
Tâm hoa sầu đứt ruột,
Chúa Xuân có hay không?”

Đọc” Mẫu đơn hoa” của La Ẩn:

*Nguyên tác:

“Tự cộng đông phong lợi hữu nhân,
Giáng la cao quyển bất thăng xuân.
Nhược giao giải ngữ ưng khuynh quốc,
Nhậm thị vô tình dã động nhân.
Thược dược dữ quân vi cận thị,
Phù dung hà xứ tị phương trần.
Khả liên Hàn lệnh công thành hậu,
Cô phụ nùng hoa quá thử thân.”

Nhược giao giải ngữ ưng khuynh quốc. Nhậm thị vô tình dã động nhân. (Ảnh: pinterest.com)

*Dịch nghĩa :

“Như cùng với khi gió đông về mà tươi tốt,
Rèm đỏ cuốn cao, màu xuân khôn kể xiết.
Nếu như có thể nói được thì sẽ làm nghiêng nước,
Còn phải vô tình thì cũng khiến động lòng người.
Thược dược cùng với nàng là kẻ thân cận,
Phù dung ghen ghét hương sắc đã trốn nơi nào.
Thật đáng thương thay (cho hoa), khi Hàn lệnh làm quan,
Mang lỗi với hương sắc làm hại đến thân (hoa)”.

*Dịch thơ (bản dịch của Điệp Luyến Hoa) :

 

“Gió đông về thổi tốt muôn phần,
Rèm đỏ cuốn cao, khắp xứ xuân.
Biết nói sẽ làm cho mất nước,
Vô tình cũng khiến phải say lòng.
Với nàng thược dược là thân thiết,
Đâu chốn phù dung lánh bụi trần ?
Hàn lệnh công thành hà cớ lại,
Lỗi cùng hương sắc hại cho thân”.

Ta lại biết thêm một điển tích “Hàn lệnh”; nói về sự long đong của thân phận Mẫu Đơn  đi trong cuộc thế lắm kẻ yêu người ghét này.

“Hàn lệnh” tức Hàn Hoằng 韓弘. Năm Nguyên Hoà thứ 14, Hàn Hoằng nhậm chức trung thư lệnh. Khi mới đến Trường An, trong cư đệ có cây mẫu đơn, bèn sai chặt đi, nói rằng: “Ngô khởi hiệu nhi nữ tử tà” 吾豈效兒女子邪 (Ta há giống nữ nhi sao).

Nguyên vào thời đó kinh thành rất chuộng mẫu đơn, mỗi khi cuối xuân người người đi ngắm mẫu đơn, xe loạn kinh thành. Chuyện Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi ngắm mẫu đơn, lệnh cho Lý Bạch viết ba bài “Thanh bình điệu” là một bằng chứng cho thấy điều này!

Ảnh: pinterest.com

Thơ Nôm Nguyễn Trãi có những từ Việt  cổ nên chúng ta bị hạn chế phần nào khi thưởng thức bài “Hoa Mẫu Đơn” của ông:

“Một thân hoà tốt lại sang,
Phú quý âu chẳng kém hải đường.
Lai láng lòng thơ ngâm chửa đủ,
Ngoài nương toàn ngọc triện còn hương”.

Nhưng các nhà thơ hiện đại thì khác.Trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh thì Hồ Dzếnh là gương mặt đặc biệt. Ông là Hoa Kiều trên đất Việt. Ông yêu quê hương đất nước này như chính người Việt yêu đất  nước mình thiết tha.Nhưng dù sao, hồn Việt ấy vẫn lãng đãng một màn sương khói của văn hóa Trung Hoa.

Thực lòng, tôi chưa thấy hoa Mẫu Đơn nở trên miền đất nhiệt đới này. Có chăng, thì ở  Bắc Bộ, ở miền giáp ranh với đất Giang Nam Trung Quốc mới có hoa Mẫu Đơn.

Hồ Dzếnh có bài thơ “Chiều” được Dương Thiệu Tước  phổ nhạc. Do cha ông là người gốc Quảng Đông nên với ông đất Trung Quốc chắc không xa và lời thơ của ông đậm đầy hương vị cổ Trung Quốc:

Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây.

Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay”.

Ảnh: pinterest.com

Có lẽ ngôi giáo đường nào đó mà ông tới trong bài thơ dưới đây thực sự có hoa Mẫu Đơn? Và, một tình yêu thoáng nhẹ như “tiếng buồn vang trong mây” này chắc hẳn có cảm hứng từ hình tượng của hoa Mẫu Đơn. Loài hoa ấy làm cho tình yêu này dù buồn mà cao khiết biết bao.

Ta hãy cùng đọc tác phẩm HOA MẪU ĐƠN đã phổ nhạc này:

Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ
Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau.

Em ạ, quê ta tháp giáo đường
Sáng chiều vẫn vọng những hồi chuông
Ai đi xem lễ tôi đi với
Gió dạo lời kinh toả vấn vương

Con gái nhà Chung xinh đẹp lạ
Đẹp hơn con gái phố phường bên
Ngày ngày hai buổi xưa đi học
Mượn lối vườn hoa để gặp em

Tôi nhớ từng viên đá lát thềm
Từng hàng ngói nhỏ mái nhà êm
Cây doi đứng cạnh hòn non bộ
Toả mát đường đi gạch lát nem

Tôi nhớ từng viên đá lát thềm. Từng hàng ngói nhỏ mái nhà êm (Ảnh: pinterest.com)

Ôi vật vô tri cũng có hồn
Những ngày nắng mới những hoàng hôn
Tình yêu sau trước đều như vậy
Những thoáng vui xen những nét buồn

Chủ Nhật tự nhiên thành buổi hẹn
Gió bay tà áo trắng như thơ
Mẫu đơn nở giữa hai lời nguyện
Phảng phất còn thơm đến bây giờ

Đêm Giáng Sinh này em ở đâu
Nghe chuông có nhớ thuở ban đầu
Ước chi sống lại thời xưa nhỉ
Để trẻ ra và để hẹn nhau.

Ước chi sống lại thời xưa nhỉ. Để trẻ ra và để hẹn nhau. (Ảnh: pinterest.com)

Thẩm Đức Tiềm với Hắc Mẫu Đơn thi: Phúc lộc của một đời người từ đâu tới?

Gắn với hoa mẫu đơn còn có một sự kiện thời nhà Thanh. Một cái án có nhiều bình luận. Bởi, quan có tài mà lại giá áo túi cơm, sống xu nịnh vua nên tổn quá nhiều Đức. Con cháu sẽ suy tàn.

Và cái Nghiệp quá nhiều nên quả báo càng nặng. Bề ngoài là hành động của ông Vua nhưng bên trong có lẽ là Nghiệp chướng. Tiếc thay, tài như thế mà phải làm điếu đóm cho người mà mình cho là dị tộc. Con cháu chỉ là phường mạt hạng và dòng họ phút chốc biến thành ma.

Sau đây là đoạn trích trong Thanh Cung 13 triều:

“Càn Long hoàng đế phòng người Hán phản bội, nên đã gây ra những vụ “án văn tự”. Bởi thế hồi đó, ngài đã tìm ra được hai vụ – một vụ là “Hắc mẫu đơn thi” (thơ vịnh hoa mẫu đơn mầu đen), còn một vụ nữa là “Trụ lâu thi cảo”. Bài thơ vịnh hoa mẫu đơn đen vốn là sáng tác phẩm của Đại học sĩ Thẩm Đức Tiềm.

Tiềm tên tự là Qui Ngu, vốn một tay thơ cự phách. Càn Long hoàng đế tuy vốn liếng văn chương chẳng mấy gì, nhưng lại thích khoe mình là người văn học thường xướng hoạ thi ca với bọn đình thần. Nhưng ngài chỉ sợ mình có phen lộ tẩy, lòi cái dốt nát ra khiến bọn bày tôi cười vào mũi cho, bởi thế ngài mời hai vị đại thần luôn luôn ở cạnh để làm bài “gà” cho mình.

Một người tên gọi Kỷ Hiều Phong chuyên làm văn thay cho ngài. Còn một người nữa chính là Thẩm Đức Tiềm, chuyên làm thơ. Về sau Tiềm chết đi. Lương Thi Chính thế vào chân đó.

Vua Càn Long (Ảnh: pinterest.com)

Thẩm Đức Tiềm thấy Càn Long hoàng đế coi trọng mình nên thường có vẻ kiêu ngạo, ngay cả trước mặt ngài. Cũng vì mọi việc thơ phú đều phải nhờ Tiềm, Càn Long hoàng đế cũng bỏ qua đi, không muốn nói đến những tiểu tiết đó trái lại còn đặc biệt kính trọng là khác.

Lúc sáu mươi tuổi, Tiềm vốn là một tú tài. Nhưng đến bảy mươi tuổi thì Tiềm vọt lên cái chức Tể tướng. Và đến tám mươi tuổi, Tiềm từ quan về vườn. Thế mà Hoàng đế vẫn thường còn sai người tới nhà riêng vấn an, thật là cả một điều vinh dự lớn lao cho Tiềm.

Càn Long hoàng đế có làm mười hai “Ngự chế thi tập”, bèn sai đưa tới nhà Thẩm Qui Ngu để nhờ duyệt lại, và nếu cần thì sửa sang cho thơ được thập phần hoàn hảo.

Thẩm Qui Ngu nhận sách, đem duyệt, chẳng thèm nể nang gì nhà vua, cứ thực mà khen chê, khiến trong tập thơ có nhiều chỗ bị phê bình quá gắt gao, với những lời lẽ rất tệ nữa, đó là chưa kể còn rất nhiều đoạn thơ bị vứt bỏ đi là khác.

Khi bộ “Ngự chế thi tập” gởi trở về kinh, Càn Long hoàng đế xem lại, trong lòng thực không vui tí nào, nhưng vì nể mặt lão thần, ngài đành làm thinh, không nói gì cả.

(Ảnh: ifeng.com)

Cách một năm sau, Thẩm Qui Ngu chết. Năm này cũng là năm mà Càn Long hoàng đế tuần du phương Nam, đi về ngả Tô Châu. Qua địa phương này, ngài bỗng nhớ lại họ Thẩm, bèn truyền chỉ xa giá tới phần mộ của Thẩm để tế viếng.

Cũng trong dịp này, ngài xuống chỉ gọi hết con cháu của họ Thẩm đến. Ngài nghĩ bụng Thẩm Đức Tiềm tức Qui Ngu vốn là thi nhân một thời thì trong nhà tất nhiên phải có trước tác, thế là ngài liền hỏi thử xem.

Đám con cháu của Tiềm thừa hưởng sự nghiệp của ông cha, quá sung sướng rồi, ngày đêm chỉ rủ nhau cờ bạc rong chơi, chẳng học hành gì cả, cho nên có biết chữ nghĩa gì nhiều đâu. Bởi thế, khi Càn Long hoàng đế hỏi tới, chúng đâu có biết gì là phạm huý hoặc không phạm huý, vội vào nhà lễ mễ đem hết mọi di cảo của ông cha ra và dâng lên.

Càn Long hoàng đế mở ra xem, thấy còn có rất nhiều bài thơ chưa được ghi vào trong thi tập, hơn nữa rất nhiều bài thơ làm thay cho hoàng đế cũng được chép vào trong, phía dưới chú thêm ba chữ “ĐẠI ĐẾ TÁC” (làm thay vua).

Hoàng đế xem xong, bất giác thẹn quá hoá giận. Ngài tự nhủ: lão già này biết thơ của trẫm đã in và phát ra ngoài rồi, ấy thế mà lão vẫn còn đề chữ “làm thay” trong thi cảo này, há chẳng phải là có dụng ý phỉ báng trẫm? Lòng lúc này quả không được vui tí nào, song ngài vẫn chưa tìm ra cách để xử trí.

Ảnh: Wikipedia

Nhưng đến lúc xem tới cuối sách, ngài thấy một bài thơ nhan đề là, “HẮC MẪU ĐƠN THI” ngay vào bài đã hạ hai câu: “Đoạt Chu phi chính sắc. Dị chủng diệc xưng vương”, thì ngài không còn giữ được bình tĩnh nữa, cả giận quát lớn:

– Chà! Tên đại nghịch bất đạo Thẩm Qui Ngu giỏi thật! Rõ ràng hắn nói trẫm đã cướp ngôi thiên tử của họ Chu, lại còn chửi trẫm là dị chủng nữa. Như thế thì làm sao trẫm nhịn được?

Thế là ngài lập tức hạ chỉ:

“Thẩm Đức Tiềm lúc sinh thời được hậu ơn của triều đình. Nay xem tới di trước, trẫm mới biết y có ý phỉ báng triều, có lòng phản loạn chống đối. Vậy trẫm hạ chỉ: quật mồ phá bia của hắn, kéo thây ma hắn trong quan ra, chém đầu răn chúng.

Còn con cháu họ Thẩm nhất luận đày tới Hắc Long Giang để sung quân. Chỉ giữ lại cháu nội năm tuổi, truất làm thường dân, để nối dõi tông đường mà thôi”.

Ảnh: Wikipedia

Vụ án văn tự này kết liễu thì cả một bọn văn nhân anh nào anh nấy hoảng quá, suốt ngày chỉ cúi đầu rụt cổ ngồi trong xó bếp, chẳng dám bò ra tới cổng nữa. Và cũng từ đó, chẳng anh nào đám ho he thơ phú để đem dâng ngự lãm.”

Cũng cần chú thích thêm về hai câu thơ trong bài HẮC MẪU ĐƠN THÍ (Thơ hoa mẫu đơn đen) đã khiến Càn Long vì tức giận quá mà trừng phạt Thẩm Đức Tiềm:

Đoạt chu phi chính sắc.
Dị chủng diệc xưng vương

Có nghĩa là:

Cướp màu đỏ thì chẳng phải là màu sắc chính
Giống quái lạ cũng xưng vương

Cướp màu đỏ thì chẳng phải là màu sắc chính. Giống quái lạ cũng xưng vương (Ảnh: pinterest.com)

Trong câu thơ thứ nhất: Chu có nghĩa là màu đỏ. Hoa mẫu đơn được gọi là vua các loài hoa – mẫu đơn màu đen tức là đã bị mất đi màu đỏ. Chu còn là họ của vua nhà Minh vì thuỷ tổ triều. Minh là Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ).

Câu thơ trên có ý ám chỉ nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh thì chằng phải là chính thống. Câu thứ nhì có nghĩa “giống quái lạ cũng xưng vua”. Ý mỉa mai khinh ghét nhà Mãn Thanh là “dị chủng” (giống quái lạ) ám chỉ nhà Mãn Thanh thuỷ giống Man rợ ở phía bắc, chứ không phải giống Hán.

La Vinh

Xem thêm:

Chia Sẻ

Clip hay

Thể Loại: Nghệ thuật Văn thơ