Cuốn sách dạy con được yêu chuộng nhất trong lịch sử Á Đông: Mỗi gia đình đều nên có 1 cuốn

Hiện nay, hầu hết các trường học ở Việt Nam đều đặt rất trang trọng dòng chữ: “Tiên học Lễ, hậu học văn”. Câu này thực ra có nguồn gốc từ lời giáo huấn của đức Khổng Tử trong “Luận ngữ – Học nhi”:

“Con em ở nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà giữ chữ Tín, yêu khắp mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm được đến vậy rồi mà còn dư sức thì hãy học văn”.

Bám sát lời dạy ấy mà tiên sinh Lý Dục Tú vào những năm Khang Hy triều Thanh đã biên soạn nên tác phẩm “Đệ tử quy” (Phép tắc người con), được mệnh danh là một trong ba kinh điển giáo dục con em tốt nhất trong lịch sử Á Đông (cùng với “Tam tự kinh” và “Thiên tự văn”).

Tiên sinh Lý Dục Tú vì đã viết “Đệ tử quy” mà sau khi mất được thờ ở Đền Tiên Hiền ở Giáng Châu Tây Sơn. Tên sách “Đệ tử quy” là do Giả Tồn Nhân triều Thanh đặt, khi ông hiệu đính “Huấn mông văn” của Lý Dục Tú. Mà “Huấn mông văn” lại là do Lý Dục Tú cải biên từ sách “Đồng mông tu tri” của Chu Hy đời Tống mà ra.

Bởi vì Chu Hy thấy trường học khi đó “Giáo dục không có phương pháp, thầy trò nhìn nhau, lạnh nhạt như người qua đường”, đạo đức bại hoại, trọng lợi quên nghĩa, giáo dục chỉ để học sinh ứng phó với thi cử. Chu Hy cho rằng đây là bỏ gốc lấy ngọn, ông chủ trương dạy ngữ văn nên “lấy việc làm sáng tỏ nhân luân làm gốc”, do đó đã biên soạn một loạt giáo trình ngữ văn, trong đó để dạy trẻ em ông đã viết “Đồng mông tu tri”, dạy bảo hướng dẫn trẻ em chi tiết trong đời sống thường ngày.

Kế tục nội hàm của “Đồng mông tu tri”, cốt lõi của “Đệ tử quy” cũng là dạy bảo hướng dẫn trẻ em đạo đức luân lý và lễ tiết cơ bản, quy phạm hành vi chính xác của trẻ em.

Căn cứ vào lời dạy của Khổng Tử, “Đệ tử quy” chia làm 7 đoạn lớn là: “Ở nhà phải hiếu”, “Ra ngoài phải đễ”, “Cẩn thận”, “Thủ tín”, “Yêu thương rộng khắp”, “Gần người nhân”, “Có dư sức thì học văn”.

Vỏn vẹn trong 1.080 chữ, nội dung dễ hiểu, vần điệu lưu loát, dễ thuộc, “Đệ tử quy” giúp các em hình thành nhân cách trong sáng, thiện lương, vun trồng đức hạnh, có thể giữ phẩm giá trong thời buổi đạo đức suy thoái, dưỡng thành gia phong trung hậu, là nền tảng quan trọng giúp các em gây dựng một tương lai thành công, hạnh phúc.

Trên hành trình thực thi sứ mệnh phục hưng văn hoá truyền thống, Đại Kỷ Nguyên xin được kính cẩn giới thiệu trọn bộ giáo trình “Đệ tử quy” gồm 32 bài được biên soạn từ tài liệu giáo khoa văn hoá của mạng Chánh Kiến, mỗi bài đều có bản dịch, diễn giải, câu chuyện tham khảo và phần phụ chú, giúp các em và cha mẹ thầy cô tham khảo để hiểu hàm nghĩa sâu sắc nội dung của kinh điển.

Chúng tôi thành tâm hy vọng rằng, cuốn sách quý này sẽ đồng hành cùng mỗi gia đình trên con đường tìm về những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, đạt tới nhân sinh hạnh phúc mỹ mãn.

BBT Đại Kỷ Nguyên

“Đệ tử quy” dạy bảo hướng dẫn trẻ em đạo đức luân lý và lễ tiết cơ bản, quy phạm hành vi chính xác của trẻ em. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

phép tắc người con
(弟子規 ĐỆ TỬ QUY)

tổng quan (總敘 Tổng Tự)

(1)

Diễn nghĩa:

Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín
Yêu rộng khắp, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn.

Ở NHÀ PHẢI HIẾU (入則孝 Nhập Tắc Hiếu)

(2)

Cha mẹ gọi, trả lời ngay
Cha mẹ bảo, làm lập tức
Cha mẹ dạy, phải kính nghe
Cha mẹ trách, phải tiếp nhận.

(3)

Đông phải ấm, hạ phải mát
Sáng phải thăm, tối phải viếng
Đi phải thưa, về phải trình
Sống quy củ, không thay đổi.

(4)

Việc tuy nhỏ, chớ tự làm
Nếu tự làm, thiếu đạo con
Vật tuy nhỏ, chớ cất riêng
Nếu cất riêng, cha mẹ buồn.

(5)

Cha mẹ thích, dốc lòng làm
Cha mẹ ghét, cẩn thận bỏ
Thân tổn thương, cha mẹ lo
Đức tổn thương, cha mẹ tủi
Cha mẹ thương, hiếu đâu khó
Cha mẹ ghét, hiếu mới hay.

(6)

Cha mẹ lỗi, khuyên thay đổi
Mặt ta vui, lời ta dịu
Khuyên không nghe, vui can tiếp
Dùng khóc khuyên, đánh không giận.

(7)

Cha mẹ bệnh, nếm thuốc trước
Ngày đêm hầu, không rời giường
Tang ba năm, thường thương nhớ
Cư xử đổi, không rượu thịt
Tang đủ lễ, cúng hết lòng
Thờ người chết, như còn sống.

RA NGOÀI PHẢI ĐỄ (出則弟 Xuất Tắc ĐỄ)

(8)

Anh thương em, em kính anh
Anh em thuận, hiếu trong đó
Nhẹ tiền bạc, oán nào sinh
Lời nhường nhịn, giận tự hết.

(9)

Hoặc ăn uống, hoặc đi đứng
Người lớn trước, người nhỏ sau
Lớn gọi người, liền gọi thay
Người không có, mình làm thay
Gọi người lớn, chớ gọi tên
Với người lớn, chớ khoe tài.

(10)

Gặp người lớn, nhanh đến chào
Người không nói, lùi cung kính
Phải xuống ngựa, phải xuống xe
Đợi người đi, hơn trăm bước
Người lớn đứng, nhỏ chớ ngồi
Người lớn ngồi, cho phép ngồi.

(11)

Trước người lớn, phải nói nhỏ
Nhỏ khó nghe, không đúng phép
Đến phải nhanh, lui phải chậm
Khi hỏi đáp, mắt nhìn thẳng
Kính chú bác, như kính cha
Kính đàn anh, như anh ruột.

CẨN THẬN(謹 Cẩn )

(12)

Sáng dậy sớm, tối ngủ trễ
Lúc chưa già, quý thời gian
Sáng rửa mặt, và đánh răng
Tiểu tiện xong, rửa tay sạch.

(13)

Mũ phải ngay, nút phải gài
Tất và giày, mang chỉnh tề
Mũ quần áo, để cố định
Chớ để bừa, tránh dơ bẩn.

(14)

Áo quý sạch, không quý đắt
Hợp thân phận, hợp gia đình
Với ăn uống, chớ kén chọn
Ăn vừa đủ, chớ quá no
Tuổi còn nhỏ, chớ uống rượu
Uống say rồi, rất là xấu.

(15)

Đi thong thả, đứng ngay thẳng
Chào cúi sâu, lạy cung kính
Chớ đạp thềm, không nghiêng dựa
Chớ ngồi dang, không rung đùi.

(16)

Vén rèm cửa, chớ ra tiếng
Rẽ quẹo rộng, chớ đụng góc
Cầm vật rỗng, như vật đầy
Vào phòng trống, như có người
Chớ làm vội, vội sai nhiều
Không sợ khó, chớ qua loa
Nơi ồn náo, không đến gần
Việc tà tịch, quyết chớ hỏi.

(17)

Sắp vào cửa, hỏi có ai
Sắp vào nhà, cất tiếng lớn
Người hỏi ai, nên nói tên
Nói ta – tôi, không rõ ràng
Dùng đồ người, cần mượn rõ
Nếu không hỏi, tức là trộm
Mượn đồ người, trả đúng hẹn
Người hỏi mượn, chớ keo kiệt.

THỦ TÍN (信 Tín)

(18)

Phàm nói ra, tín trước tiên
Lời dối trá, sao nói được
Nói nhiều lời, không bằng ít
Phải nói thật, chớ xảo nịnh
Lời gian xảo, từ bẩn dơ
Thói chợ búa, phải loại trừ.

(19)

Thấy chưa thật, chớ nói bừa
Biết chưa đúng, chớ tuyên truyền
Việc không tốt, chớ nhận lời
Nếu nhận lời, tiến lui sai
Phàm nói chuyện, nói từ tốn
Chớ nói nhanh, chớ mơ hồ
Kia nói phải, đây nói quấy
Không liên quan, chớ quản chuyện.

(20)

Thấy người tốt, nên sửa mình
Dù còn xa, cũng dần kịp
Thấy người xấu, tự kiểm điểm
Có thì sửa, không cảnh giác.

(21)

Chỉ đức học, chỉ tài nghệ
Không bằng người, phải tự gắng
Nếu quần áo, hoặc ăn uống
Không bằng người, không nên buồn.

(22)

Nghe lỗi giận, nghe khen vui
Bạn xấu đến, bạn hiền đi
Nghe khen sợ, nghe lỗi vui
Người hiền lương, dần gần gũi.

(23)

Lỗi vô ý, gọi là sai
Lỗi cố ý, gọi là tội
Biết sửa lỗi, không còn lỗi
Nếu che giấu, lỗi chồng thêm.

YÊU RỘNG KHẮP(汎愛眾 Phiếm Ái Chúng)

(24)

Phàm là người, đều yêu thương
Che cùng trời, ở cùng đất
Người hạnh cao, danh tự cao
Mọi người trọng, không bề ngoài
Người tài lớn, danh tự lớn
Được người phục, chẳng do khoe.

(25)

Mình có tài, chớ dùng riêng
Người có tài, chớ nói xấu
Không nịnh giàu, chớ khinh nghèo
Chớ ghét cũ, chớ thích mới
Người không rảnh, chớ làm phiền
Người bất an, chớ quấy nhiễu.

(26)

Người có lỗi, chớ vạch trần
Việc riêng người, chớ nói truyền
Khen người thiện, tức là thiện
Người biết được, càng gắng sức
Nói người xấu, chính là ác
Ác cùng cực, tai họa đến
Cùng khuyên thiện, cùng lập đức
Lỗi không khuyên, thiệt cả hai.

(27)

Hễ nhận cho, phân biệt rõ
Cho nên nhiều, nhận nên ít
Sắp cho người, trước hỏi mình
Mình không thích, phải mau ngưng
Ân phải báo, oán phải quên
Báo oán ngắn, báo ân dài.

(28)

Với người dưới, thân đoan chính
Tuy đoan chính, lòng độ lượng
Thế phục người, tâm không phục
Lý phục người, tâm mới phục.

GẦN NGƯỜI NHÂN (親仁 Thân Nhân)

(29)

Cùng là người, tính tình khác
Thô tục nhiều, nhân từ ít
Đúng người nhân, người kính sợ
Nói thẳng lời, không xu nịnh
Gần người nhân, tốt vô hạn
Đức ngày tăng, lỗi ngày giảm
Không gần nhân, hại vô cùng
Tiểu nhân đến, trăm việc hỏng.

CÓ DƯ SỨC THÌ HỌC VĂN (餘力學文 Dư Lực Học Văn)

(30)

Không thực hành, chỉ học văn
Chỉ phù hoa, chẳng nên người
Chỉ thực hành, không học văn
Theo ý mình, mù lẽ phải.

(31)

Cách đọc sách, có ba điểm
Tâm mắt miệng, tin đều trọng
Mới đọc đây, chớ thích kia
Đây chưa xong, kia chớ đọc
Thời gian ít, cần chăm chỉ
Công phu đủ, đọc liền thông
Tâm có nghi, thì chép lại
Tìm người hỏi, cầu nghĩa đúng.

(32)

Gian phòng sạch, vách tường sạch
Bàn học sạch, bút nghiên ngay
Mực mài nghiêng, tâm bất chính
Chữ viết ẩu, tâm sinh bệnh
Xếp sách vở, chỗ cố định
Đọc xem xong, trả chỗ cũ
Tuy có gấp, xếp ngay ngắn
Có sai hư, liền tu bổ
Không sách Thánh, bỏ không xem
Che thông minh, hư tâm trí
Chớ tự chê, đừng tự bỏ
Thánh và Hiền, dần làm được.

• Kinh văn đang hiệu chỉnh, Ban biên tập sẽ gửi đến quý độc giả bản cuối cùng sau khi đăng tải 32 kỳ Giải nghĩa “Phép tắc người con”.

• Đón đọc: Phép tắc người con – Bài 1: Phép người con
>> Xem trọn bộ: “Phép tắc người con”

(Biên dịch và thiết kế: Ban biên tập Đại Kỷ Nguyên.
Minh hoạ: Từ cuốn “Quốc văn giáo khoa thư” và “Luân lý giáo khoa thư”)