Khi thơ ca là niềm vui bên lò sưởi của gia đình Mỹ
Trước internet, truyền hình và phát thanh, đọc thành tiếng văn học và thơ từng là cách giải trí rất phổ biến. Những bài thơ có nhịp điệu rõ ràng, câu chuyện dễ theo dõi và ý nghĩa đạo đức đã gắn kết các thế hệ trong phòng khách gia đình.

Trước internet, truyền hình và phát thanh, đọc thành tiếng văn học và thơ từng là cách giải trí rất phổ biến. Những bài thơ có nhịp điệu rõ ràng, câu chuyện dễ theo dõi và ý nghĩa đạo đức đã gắn kết các thế hệ trong phòng khách gia đình.
Bỏ màn hình và dịch vụ phát trực tuyến ngày nay, trở về nửa sau thế kỷ XX, ta thường gặp gia đình quây quần trước tivi xem các phim hài như I Love Lucy, chương trình tạp kỹ The Ed Sullivan Show, Hee-Haw, phim dài tập Dr. Kildare, Perry Mason hay phim chiếu lại.
Ở thập niên 1930 và 1940, buổi tối cha mẹ, con cái và ông bà tụ quanh radio, nghe The Shadow, Fibber McGee and Molly, Lux Radio Theater và Jack Benny. Nhưng lùi về thế kỷ XIX thì sao?
Tự tạo niềm vui
Không chỉ thiếu phương tiện giải trí điện tử, phần lớn gia đình khi ấy còn chưa có điện. Ngoài các buổi tạp kỹ, nhà hát thành phố lớn và tiết mục tại câu lạc bộ, ai muốn vui chơi buổi tối thường phải tự tạo ra niềm vui.
Hãy hình dung tháng sáu năm 1890 ở Front Royal, Virginia. Người ta ngồi ở hiên những ngôi nhà quanh trung tâm thị trấn. Những mái hiên ấy vẫn còn ngày nay nhưng hiếm được sử dụng. Khi ấy có thể nghe tiếng piano hay ai đó hát; ngày nay phần lớn âm nhạc lại từ xe chạy qua với dàn âm thanh mở lớn. Gia đình đông con hơn, nên lúc chạng vạng, trẻ em tụ lại cười đùa, đuổi đom đóm hoặc chơi trốn tìm trên những khoảng sân nay vắng như các mái hiên.
Khi trời tối, nhìn qua cửa sổ có thể thấy cả nhà trong phòng khách, cùng nghe một người đọc sách thành tiếng.
Với các gia đình khắp nước Mỹ thế kỷ XIX, sách giống như radio và tivi — nguồn giải trí bên ngoài đáng tin cậy chủ yếu của họ. Ngoài Kinh Thánh, họ thưởng thức tiếng cười, sự cảm thương và bi kịch trong tác phẩm của Charles Dickens, Walter Scott hay Mark Twain của nước Mỹ. Dù sống trên một nông trại Iowa, chỉ cần người đọc tốt, trí tưởng tượng và tiểu thuyết như King Solomon’s Mines hoặc Oliver Twist, cả người lớn lẫn trẻ nhỏ đã có thể đến với những vùng đất và con người xa lạ.
Và còn có các nhà thơ.
Thời hoàng kim của thơ trong phòng khách
Một video YouTube về “Các nhà thơ bên lò sưởi” mở đầu bằng câu chuyện khi Henry Wadsworth Longfellow tròn 70 tuổi, nước Mỹ mừng sinh nhật ông với sự nồng nhiệt như ngày lễ quốc gia: trường học đóng cửa, diễn văn được đọc, hàng nghìn trẻ em diễu hành vinh danh. Theo lời giới thiệu ấy, gần tám mươi năm, những ngôi sao truyền thông đại chúng lớn nhất nước Mỹ không chơi thể thao hay giữ chức vụ chính trị: họ làm thơ.
Khi đọc thành tiếng là một hình thức truyền thông đại chúng quan trọng, sự nổi tiếng ấy có thể hiểu được.
Các gia đình tìm đến loại thơ đáp ứng những yêu cầu nhất định. Họ muốn câu có vần và nhịp mạnh, đều như mạch đập, giúp dễ đọc và ngâm thuộc. Họ muốn bài thơ kể một câu chuyện hoặc tạo nên một cảnh kịch tính. Họ cũng muốn thơ phù hợp cả nhà, truyền đạt bài học về đạo đức, chân lý, với đề tài hấp dẫn cả trẻ lẫn già. Vào thời điểm đó, người Mỹ còn mong xác lập bản sắc quốc gia; nhiều nhà thơ cùng chung mong muốn sẵn lòng đáp ứng.
Longfellow có lẽ nổi bật nhất trong số những người làm thơ này. Paul Revere’s Ride, The Song of Hiawatha, The Village Blacksmith và The Children’s Hour đều rất phù hợp để gia đình cùng nghe đọc. Những dòng mở đầu Paul Revere’s Ride, tạm dịch ý, thể hiện rõ điều ấy:
Hãy nghe, các con, rồi các con sẽ biết
Chuyến cưỡi ngựa nửa đêm của Paul Revere,
Vào ngày mười tám tháng tư năm bảy lăm;
Nay gần như chẳng còn ai sống
Nhớ ngày và năm nổi tiếng ấy.
Ở đó có nhịp chắc, một nhân vật lịch sử và lời gọi trực tiếp tới trẻ em.
The Song of Hiawatha còn minh họa rõ hơn nhịp tựa tiếng trống từng cuốn hút người nghe bên bếp lửa. Đoạn thơ tạm chuyển nghĩa:
Bên bờ Gitche Gumee,
Bên làn Nước Biển Lớn sáng ngời,
Là túp lều của Nokomis,
Con gái Mặt Trăng, Nokomis.
Sau lưng lều rừng mọc,
Những cây thông đen tối âm u,
Những cây linh sam mang quả nón;
Phía trước lều nước vỗ sáng trong,
Làn nước trong và chan nắng,
Làn Nước Biển Lớn lấp lánh.
Tình cảm cũng là vị khách được chào đón trong nhà. Trong The Children’s Hour năm 1863, Longfellow kết thúc bằng lời yêu các con gái, ví phòng làm việc cuối ngày với một lâu đài bị những cô bé tinh nghịch tấn công. Đoạn thơ tạm chuyển nghĩa:
Cha giữ các con trong pháo đài,
Chẳng để các con rời bước,
Mà đặt các con vào ngục nhỏ
Trong tháp tròn trái tim cha.
Cha sẽ giữ các con mãi mãi,
Mãi mãi và thêm một ngày,
Đến khi tường thành đổ nát,
Rồi mục tan thành bụi bay!
Các thi sĩ bên lò sưởi, xưa và nay
Longfellow là một trong năm người New England được gọi là “Các nhà thơ bên lò sưởi” vì được các gia đình yêu thích. Họ đôi khi còn được gọi là “Các nhà thơ lớp học” bởi những bài thơ nhịp nhàng thường được học thuộc trong trường. Bốn người còn lại là William Cullen Bryant, John Greenleaf Whittier, Oliver Wendell Holmes cha và James Russell Lowell. Một số danh sách còn thêm Ralph Waldo Emerson.
Trong cuốn Literature in School năm 1888, nhà giáo dục Horace Scudder viết rằng họ sinh trên đất Mỹ, hít thở không khí Mỹ và được nuôi dưỡng bằng tư tưởng Mỹ — những người Mỹ tiêu biểu nhất.
Đó là những nhà thơ phòng khách phổ biến nhất, nhưng còn nhiều người khác đem đến niềm vui và sự khai sáng cho gia đình Mỹ. Bài Sheridan’s Ride kịch tính của Thomas Buchanan Read, những lời khích lệ rèn nhân cách trong Solitude, It Might Have Been của Ella Wheeler Wilcox và nhiều bài nữa đều được chào đón như khách quý. Các thi sĩ Anh như Alfred Tennyson, William Wordsworth, Robert và Elizabeth Browning, Rudyard Kipling cũng có chỗ bên lò sưởi Mỹ.
Trao đổi văn hóa không chỉ có một chiều. Năm 1943, trên chuyến xe từ nơi nay gọi là Camp David về Washington, Franklin Roosevelt chỉ cho Winston Churchill ngôi nhà Barbara Fritchie tại Frederick, Maryland. Khiến Roosevelt, phu nhân Eleanor và Harry Hopkins — người chỉ đạo các chương trình cứu trợ thuộc Chính sách Kinh tế mới — ngạc nhiên, Churchill đọc thuộc toàn bộ bài Barbara Frietchie của John Greenleaf Whittier, tác phẩm ông ghi nhớ từ thuở nhỏ. “Frietchie” là cách Whittier viết tên bà.
Thay đổi văn hóa và công nghệ dần đưa người Mỹ rời thú vui ấy. Trong khi đó, thơ chuyển trọng tâm từ kể chuyện và cấu trúc câu sang cảm xúc và thơ tự do. Một số thi sĩ như Robert Service và Robert Frost vẫn tiếp nối truyền thống cũ sâu sang thế kỷ XX, nhưng ngày nay chủ yếu các nhà thơ hiện đại thế kỷ XX xuất hiện trong tuyển tập và được dạy trong lớp.
Ít người muốn đổi phương tiện giải trí điện tử lấy một lò sưởi và một bài thơ. Nhưng coi đây là lựa chọn chỉ được một trong hai là tạo ra thế đối lập không cần thiết. Ta có thể lên mạng nghe đọc nhiều bài thơ xưa, có bài rất xúc động; hoặc đơn giản ngồi xuống với một cuốn sách thật, chia sẻ thơ cùng gia đình và bạn bè.
Có lò sưởi hay không cũng được.
Jeff Minick, The Epoch Times, ngày 29/10/2026. Bản dịch đầy đủ nội dung chính; các đoạn thơ được chuyển nghĩa.
Ghi chú biên tập: Bản nguồn còn nêu tên “Stephen Vincent Millay” trong đoạn ví dụ về các thi sĩ thế kỷ XX. Tên này được lược khỏi bản dịch vì chưa xác định được nhân vật tác giả muốn nhắc tới. Hồ sơ của Poetry Foundation ghi tên nữ thi sĩ Millay cùng thời là Edna St. Vincent Millay; thông tin đó không đủ để khẳng định đây chính là người bài gốc muốn nói đến.


