Về sự việc sáu nước bị diệt vong, Tô Tuân cho rằng nếu các nước này không lấy đất hối lộ nước Tần, mà là cấp cho người có tài năng, thế thì sáu nước không chỉ không vong, mà nước Tần sẽ sợ đến mức ăn cơm nuốt không trôi…

Giáo sư Chương Thiên Lượng đề xuất một vấn đề khác, chính là khi Tần vương diệt sáu nước, rất nhiều người đã khảo sát lại nguyên nhân dẫn tới sáu nước bị diệt vong. Trong ‘bát đại gia’ Đường – Tống có ba cha con Tô Tuân, Tô Thức và Tô Triệt, họ đều từng viết những bài văn về cùng một chủ đề gọi là “Lục quốc luận”. 

Tô Tuân trong “Lục quốc luận” khi luận chứng về nguyên nhân sáu nước diệt vong, ông đã nêu ra một quan điểm nói rằng: “Không phải vì binh bất lợi, không thiện chiến; mà do hối lộ nước Tần”. Ý tứ là sự diệt vong của sáu nước không phải thất bại về mặt quân sự, mà là quốc sách của họ thất bại, họ nghĩ ra mọi cách đi hối lộ nước Tần, sau khi lấy thành trì và đất đai đưa cho Tần, họ hy vọng nước Tần sẽ duy hộ hoà bình hai nước. 

Cách làm này Tô Tuân miêu tả bằng một câu trong “Sử ký – Nguỵ thế gia”: “Lấy đất cống hiến cho Tần như ‘ôm củi cứu hoả’, củi chưa hết, hoả chưa dừng”. Cho nên lục quốc không ngừng hối lộ Tần, kết quả chỉ khiến nước Tần càng ngày càng mạnh, còn bản thân càng ngày càng yếu, vậy nên sáu nước diệt vong.

Tô Tuân nói nếu sáu nước không lấy đất hối lộ nước Tần, mà là cấp cho người có tài năng, thế thì sáu nước không chỉ không vong, mà nước Tần sẽ sợ đến mức ăn cơm nuốt không trôi. Do đó Tô Tuân cho rằng nguyên nhân sáu nước diệt vong là do sai lầm trên phương diện ngoại giao, hoặc sai lầm của quyết sách quốc gia.

Tô Triệt là con trai của Tô Tuân. Tô Triệt đã từ góc độ địa chính trị mà phân tích nguyên nhân diệt vong của sáu nước. Tô Triệt cho rằng: Nước Tần muốn tấn công sáu nước ắt phải diệt được nước Hàn và nước Nguỵ. Mà Hàn và Nguỵ không có ‘danh sơn đại xuyên’ để làm lá chắn, cho nên rất dễ bị diệt, họ sẽ không chống lại được sức tấn công của nước Tần. Do đó sáu nước nếu hiểu rõ điều này, họ nên hỗ trợ nước Hàn và nước Nguỵ, chỉ cần Hàn và Nguỵ không vong, các quốc gia khác sẽ vô cùng an toàn.

Tô Triệt từ góc độ địa chính trị nhấn mạnh mức độ quan trọng của Hàn và Nguỵ. Kỳ thực, khi Phạm Thư đề xuất sách lược ‘viễn giao cận công’ cho Tần vương, ông đã nói rằng: “Nên giống như tằm ăn dâu, trước tiên thôn tính Hàn và Nguỵ”.

Tô Thức cũng viết một thiên trong “Lục quốc luận”, ông đứng từ góc độ nhân tài mà giảng về nguyên nhân sáu nước diệt vong.

Lời của những người họ đều có đạo lý nhất định, nhưng điều họ giảng có phải là nguyên nhân cuối cùng khiến sáu nước diệt vong không? Tại đây, Giáo sư Chương đề xuất một quan điểm, quan điểm khi “Đông Chu liệt quốc chí” được viết đến đoạn lục quốc diệt vong, ở phần cuối có đưa ra một bài thơ tổng kết như sau: 

Bốc thế tuy nhiên bát bách niên
Bán do nhân sự bán do Thiên
Miên diên quá lịch duyên trung hậu 
Lăng thế tuỳ ba vị đảo điên
Lục quốc mị Tần cam bắc diện
Nhị Chu thất tự hận đông thiên
Tổng quan thiên cổ hưng vong cục
Tận tại triều trung dụng nịnh hiền. 

Dịch thơ: 

Suy đoán thế sự tám trăm năm
Một nửa do nhân (1) nửa do Thiên (2)
Trải qua lịch sử lòng trung hậu
Lăng theo sóng nước mà đảo điên (3)
Sáu nước nịnh Tần cầu yên ổn
Nhị Chu (4) không thờ mà ‘dời đông’ (5)
Tổng quan kết cục hưng hay bại
Tất cả bởi do dụng siểm (6) – hiền (7)

Bài thơ này đề cập đến quan điểm của Tô Tuân trong “Lục quốc luận”: ‘Sáu nước nịnh Tần cầu yên ổn’ chính là sáu nước đều đi hối lộ Tần; cũng đề cập đến quan điểm về nhân tài của Tô Thức: ‘Tất cả bởi do dụng siểm – hiền’.

Tác giả của “Đông Chu liệt quốc chí” còn đề cập đến một quan điểm là ‘Nhị Chu không thờ mà dời đông’. Ông cho rằng ‘Nhị Chu đông thiên’ (Vua cuối nhà Tây Chu dời đô về đông) là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự diệt vong của sáu nước. ‘Bình Vương đông thiên’, rất nhiều người biết nguyên nhân này, chính là Chu U Vương ‘đốt lửa làm hiệu – đùa bỡn chư hầu’. Chu U Vương là vị quân chủ cuối cùng thời Tây Chu, ông rất sủng ái một mỹ nữ tên là Bao Tự. Mỹ nữ này đặc biệt không thích cười. Chu U Vương vì để Bao Tự cười, ông đã dán một cáo thị, ai có thể khiến Bao Tự cười thì thưởng 1000 cân vàng kim.

Có một người là Quách Thạch Phụ đề xuất một chủ ý rằng: “Chúng ta ở Ly Sơn hãy thiết đặt Phong hoả đài (烽火臺)”. Mỗi khi có dân tộc thiểu số xâm chiếm, ‘vương thất nhà Chu’ (Chu vương thất) bị uy hiếp, họ sẽ đốt lửa làm hiệu trên Phong hoả đài, ban ngày ‘đốt phân sói làm khói ám hiệu báo động’ (lang yên – 狼煙), ban đêm đốt lửa. 

Phân chó sói sau khi đốt lên, khói sẽ bay lên mà không tản, ở một nơi cách rất xa vẫn nhìn thấy, cho nên nói rằng ‘lang yên tứ khởi’ (khói khởi tứ bề) là để ám chỉ chiến tranh. Chư hầu các nước thấy ‘lang yên’ hoặc là lửa báo hiệu, họ sẽ đem binh giúp vua, đến cứu Chu vương thất. 

Quách Thạch Phụ nói thêm: “Nhưng quốc gia chúng ta đã an định trong thời gian rất lâu rồi, chi bằng chúng ta đốt lửa báo hiệu, chư hầu sẽ đến. Nếu Bao Tự thấy chư hầu đến cứu nhưng không có chuyện gì xảy ra cả, nàng ấy sẽ thấy rất đáng cười. Thấy mọi người thở gấp hổn hển, kỳ thực ngài cười hay không cũng không có chuyện gì, nhưng Bao Tự có thể cười”.

Chu U Vương mở yến tiệc tại Ly Sơn, uống rượu nghe nhạc với Bao Tự, sau đó lệnh cho người đốt lửa. Hễ thấy lửa thì chư hầu liền đến, mang theo áo giáp vũ khí, chạy đến mệt bở hơi tai đến dưới Phong hoả đài, thì thấy Chu U Vương đang cùng mỹ nhân uống rượu. Chu U Vương nói: “Không có chuyện gì đâu, trêu chọc các ngươi một tí thôi mà, các ngươi hãy về đi”.

Chư hầu rất tức giận, đành giải giáp ra về. Bao Tự thấy chư hầu đến rồi đi, cảm thấy rất vui, sau đó bật cười. Chu U Vương hễ thấy mỹ nhân cười, trông rất mực xinh đẹp, kể từ đó ông thường xuyên đốt lửa. Chư hầu bị lừa một lần, hai lần, đến lần tiếp theo chư hầu không đến nữa. 

Sau đó khi tộc Khuyển Nhung xâm lược, Chu U Vương đốt lửa thì chư hầu không đến nữa. Ông bị Khuyển Nhung giết chết, Bao Tự bị bắt đi, còn cung điện bị thiêu rụi.

Sau khi Chu U Vương mất, con trai của ông kế vị, chính là Chu Bình Vương. Chu Bình Vương thấy cung điện bị đốt, không muốn ở lại nơi ấy nữa. Thế là ông bèn dời kinh đô Cảo Kinh về Lạc Ấp (hiện nay là thành phố Lạc Dương tỉnh Hà Nam, Trung Quốc).

Việc Chu Bình Vương dời đô về phía đông trong lịch sử, Giáo sư Chương cho rằng đây là một loại an bài. Bởi vì năm Chu Tuyên Vương thứ 46, cũng chính là năm 782 TCN, Chu Tuyên Vương băng hà. Sau khi băng hà, con trai của ông là Cung Sinh, chính là U Vương kế vị.

Năm 780 TCN, ở Tam Xuyên xảy ra động đất, khi đó có một Thái sử là Bá Dương Phủ nói rằng: “Năm ấy, khi Y thuỷ và Lạc thuỷ khô kiệt, triều Hạ sẽ diệt vong; khi Hoàng Hà khô kiệt, triều Thương diệt vong; Tam Xuyên địa chấn, đá từ núi lăn xuống sẽ làm tắc dòng sông, Tam Xuyên (ba sông) đều sẽ khô kiệt.

Mà địa phương Tam Xuyên chính là chứng tích của Chu Văn Vương và Chu Vũ Vương, nếu nơi này mà khô kiệt thì triều Chu diệt vong. Vị quốc vương của triều Chu hiện tại, đạo đức của ông ấy so với đạo đức triều Hạ và triều Thương trước lúc diệt vong là vô cùng giống nhau, cho nên triều Chu đã ở trong những ngày nguy hiểm rồi”. 

Vậy thì chính xác là thời gian nào? Bá Dương Phủ nói rằng: “Đại khái sau khoảng 10 năm nữa, nhà Chu sẽ diệt vong”. Địa chấn xảy ra năm 780 TCN, 10 năm sau tức năm 770 TCN, Khuyển Nhung sẽ xâm lược và giết chết Chu U Vương.

Bởi vì số đếm Trung Quốc sử dụng hệ thập phân, 10 được xem là con số lớn nhất, gọi là ‘số để ghi chép’ (số chi kỷ – 數之紀). Do đó nếu Trời muốn diệt một quốc gia, thời gian sẽ không quá con số này. Từ năm 780 TCN xảy ra địa chấn Tam Xuyên cho đến lúc nhà Chu diệt vong, toàn bộ quá trình xảy ra trong 10 năm. 

Chú thích:
(1) Nhân: Người.
(2) Thiên: Trời.
(3) Đảo điên: Đảo lộn, lật đổ.
(4) Nhị Chu: Chỉ vị vua cuối cùng thời Tây Chu. 
(5) Nguyên gốc là Đông thiên –  東遷: đời đô về đông. 
(6) Siểm: siểm nịnh, xu nịnh. 
(7) Hiền: bậc hiền nhân. 

Theo Epoch Times
Mạn Vũ biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

Video: Dự ngôn bí ẩn: Con chim lông trắng báo hiệu vận mệnh Trung Quốc và Tập Cận Bình

videoinfo__video3.dkn.tv||410003a16__

Ad will display in 09 seconds