80 năm sau Nuremberg: Làm theo mệnh lệnh có miễn trách nhiệm?
Bình luận của Thanh Phong (清風), đăng trên The Epoch Times ngày 15/10/2026. Những lập luận và đánh giá trong bài là quan điểm của tác giả.

Bình luận của Thanh Phong (清風), đăng trên The Epoch Times ngày 15/10/2026. Những lập luận và đánh giá trong bài là quan điểm của tác giả.
Rạng sáng 16/10/1946, đèn vẫn sáng trong phòng thể thao của nhà tù thuộc Cung điện Tư pháp Nuremberg. Sau 1 giờ, cựu ngoại trưởng Đức Quốc xã Joachim von Ribbentrop là người đầu tiên bước lên giá treo cổ. Tổng cộng mười tội phạm Quốc xã bị xử treo cổ lần lượt. Hermann Göring, vốn đứng đầu danh sách, đã uống cyanide tự sát trong phòng giam vào đêm trước.
Khi tới lượt Julius Streicher, ông ta hô “Hitler muôn năm”. Theo tường thuật tại chỗ của phóng viên Kingsbury Smith thuộc International News Service, sau khi lên bục, Streicher quay lại nhìn chằm chằm các nhân chứng rồi thét lên: “Lễ Purim 1946!” Khi được hỏi có lời cuối nào không, ông ta nói những người Bolshevik một ngày nào đó sẽ treo cổ họ. Sau khi trùm đầu đen được kéo xuống, người ta nghe ông ta lẩm bẩm gọi người vợ Adele.
Phần lớn sĩ quan Mỹ có mặt không hiểu Purim là gì. Đây là lễ của người Do Thái tưởng nhớ câu chuyện trong sách Esther: quan đại thần Haman của Ba Tư mưu tiêu diệt người Do Thái, cuối cùng chính ông ta và mười người con trai bị treo lên. Đêm đó cũng có mười người bị xử treo cổ. Streicher biết điển tích này; báo của ông ta từng đăng bài dài về Purim năm 1934. Tới phút cuối, ông ta vẫn chỉ nhìn thế giới theo một cách.
Sức nặng của một tờ tuần báo
Streicher không phải quân nhân, cũng không tham gia lập kế hoạch cho cuộc diệt chủng. Nhưng quyền lực ông ta từng nắm không nhỏ: lãnh đạo vùng Franconia từ 1925 đến 1940, chủ trì cuộc tẩy chay cửa hàng Do Thái trên toàn quốc ngày 1/4/1933, phá hủy giáo đường Do Thái tại Nuremberg ngày 10/8/1938. Những việc này đều được ghi trong bản án.
Tháng 2/1940, ông ta bị cáo buộc chiếm đoạt tài sản Do Thái bị tịch thu sau Đêm Thủy tinh vỡ, đồng thời tung tin đồn về Göring, nên mất toàn bộ chức vụ trong đảng, chỉ giữ danh hiệu lãnh đạo vùng trên danh nghĩa. Từ đó đến hết chiến tranh, cũng là những năm người Do Thái ở phía đông bị sát hại hàng loạt, thứ chủ yếu còn trong tay ông ta là tờ Der Stürmer.
Tuần báo này do ông ta lập năm 1923, xuất bản tới 1945; lượng phát hành đạt 600.000 bản vào năm 1935. Phán quyết của Tòa án Quân sự Quốc tế mô tả việc tờ báo liên tục đầu độc tâm trí người Đức bằng chủ nghĩa bài Do Thái, kích động họ tham gia bức hại.
Bản án liệt kê 23 bài trong giai đoạn 1938–1941 cổ súy tận diệt người Do Thái, trong đó có bài ví họ với ký sinh trùng và mầm bệnh cần bị loại bỏ vì lợi ích nhân loại. Tòa không kết tội ông ta âm mưu tiến hành chiến tranh xâm lược. Tội đưa ông ta tới giá treo cổ là tội ác chống loài người: vẫn kích động giết chóc, diệt chủng trong lúc người Do Thái ở phía đông đang bị sát hại bằng những cách khủng khiếp.
Trong cùng phán quyết, Hans Fritzsche, phụ trách phát thanh thuộc Bộ Tuyên truyền của Joseph Goebbels, được tuyên trắng án. Tòa nhận thấy chương trình của ông mang màu sắc tuyên truyền rõ rệt nhưng không đủ để xác định ý định kích động người Đức dùng bạo lực với dân ở vùng bị chiếm đóng.
Đặt hai phán quyết cạnh nhau, theo tác giả, ranh giới Nuremberg vạch ra khá rõ: lời nói tự thân không dẫn đến án tử hình; vấn đề là giữa lúc thảm sát diễn ra, biết hậu quả nhưng vẫn liên tục mô tả một nhóm người như sâu bọ cần bị tiêu diệt. Tác giả cho rằng ranh giới được đặt ra thận trọng nên vẫn chịu được sự chất vấn sau 80 năm.
Họ muốn bị xử bắn với tư cách quân nhân
Cùng bị treo cổ với Streicher có Wilhelm Keitel, đứng đầu Bộ Chỉ huy tối cao quân đội Đức, và Alfred Jodl, đứng đầu bộ phận tác chiến. Họ biện hộ gần giống nhau: bổn phận quân nhân là phục tùng, mệnh lệnh đến từ lãnh tụ, họ chỉ thi hành.
Điều 8 Hiến chương Tòa án Quân sự Quốc tế đã quy định việc làm theo lệnh chính phủ hoặc cấp trên không miễn trách nhiệm; chỉ có thể được cân nhắc giảm nhẹ nếu tòa thấy phù hợp với công lý.
Với Keitel, tòa kết luận không có tình tiết giảm nhẹ: những tội ác khủng khiếp, rộng khắp được thực hiện có chủ ý, tàn nhẫn và không có lý do quân sự; mệnh lệnh cấp trên, kể cả với quân nhân, cũng không thể là căn cứ giảm nhẹ. Với Jodl, tòa nói không ai đòi hỏi một quân nhân tham gia tội ác như vậy; ông không thể ẩn sau quan niệm phải phục tùng bằng mọi giá.
Sau phán quyết, Keitel, Jodl và một số người xin được xử bắn. Theo hiến chương, Hội đồng Kiểm soát Đồng minh có quyền giảm hoặc thay hình phạt, nhưng không chấp thuận. Họ muốn chết với tư cách quân nhân; bản án xác định họ là tội phạm.
Chưa đầy hai tháng sau, một tòa quân sự Mỹ tại cùng Cung điện Tư pháp xét xử nhóm bị cáo khác. Trong 23 người, phần lớn là bác sĩ; vụ án liên quan các thí nghiệm làm lạnh, áp suất thấp, lây nhiễm trên tù nhân trại tập trung và chương trình giết người gọi là “an tử”. Họ vẫn biện hộ bằng nhu cầu quốc gia, luật thời chiến, chỉ thị cấp trên.
Tòa xem xét từng vai trò, cuối cùng tuyên bảy án tử hình và tuyên trắng án bảy người. Vụ xử để lại Bộ quy tắc Nuremberg, trong đó nguyên tắc đầu tiên xác định sự đồng ý tự nguyện của người tham gia thí nghiệm là tuyệt đối cần thiết.
Năm 1950, Ủy ban Luật pháp Quốc tế của Liên Hợp Quốc hệ thống hóa các nguyên tắc Nuremberg. Nguyên tắc IV nêu người hành động theo lệnh chính phủ hoặc cấp trên không được miễn trách nhiệm theo luật quốc tế, nếu thực tế họ có khả năng lựa chọn về mặt đạo đức. Với tác giả, vế sau ấy hướng tới mọi người thi hành mệnh lệnh về sau.
Những người thi hành mặc áo blouse trắng
Tháng 7/1999, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu cuộc trấn áp toàn diện Pháp Luân Công, nhóm tín ngưỡng lấy Chân–Thiện–Nhẫn làm giá trị cốt lõi. Trước đó, người tập thường luyện công, thiền định ở công viên vào sáng sớm. “Phòng 610” được lập để điều phối trấn áp; từ đài truyền hình, đồn cảnh sát tới trại lao động và tòa án, mỗi khâu đều có người thực hiện. Trong hơn hai thập niên sau, nhiều trường hợp giam giữ, tra tấn, cưỡng ép từ bỏ đức tin và tử vong do bức hại được ghi nhận.
Tác giả nhận định tuyên truyền đi trước trấn áp. Mùa hè 1999, CCTV liên tục phát dày đặc chương trình phê phán. Hình ảnh vụ “tự thiêu” tại Thiên An Môn ngày 23/1/2001 đến nay vẫn là ấn tượng sâu đậm của nhiều người Trung Quốc về Pháp Luân Công.
Tác giả cho rằng đoạn phim có nhiều điểm nghi vấn và dẫn việc phóng viên Washington Post tới Khai Phong khi đó, nơi hàng xóm của người chết Lưu Xuân Linh nói chưa từng thấy bà luyện công. Theo lập luận của tác giả, câu hỏi đặt ra với người biên tập hình ảnh, viết lời bình là họ có biết sự thật và biết những người bị mô tả như mối nguy cho xã hội đang chịu tra tấn trong trại lao động hay không — một câu hỏi ông liên hệ tới trường hợp Streicher.
Mùa hè 1995, bác sĩ ngoại khoa trẻ Enver Tohti tại một bệnh viện ở Urumqi được hai trưởng khoa gọi vào phòng hỏi có muốn làm điều gì “kích thích” hay không. Sáng sau, ông cùng trợ lý, y tá lên xe cứu thương chỉ có một giường, theo đường núi tới pháp trường ngoài thành phố. Là người dân tộc thiểu số duy nhất trên xe, suốt đường ông sợ người bị xử tử chính là mình.
Tới nơi, ông mới biết nhiệm vụ liên quan một người ở đầu hàng tù nhân vừa bị xử bắn. Người này trúng đạn ở ngực, vẫn còn sống. Theo lời kể của Tohti được tác giả dẫn lại, ông làm theo chỉ thị, lấy gan và hai quả thận. Về sau ông nhớ rằng phản ứng đầu tiên lúc ấy là nhẹ nhõm vì người nằm dưới đất không phải mình.
Ông rời Trung Quốc năm 1998, cuối cùng định cư ở London. Nhiều năm sau, ông lần đầu kể công khai sự việc rồi trình bày với truyền thông và Quốc hội Mỹ. Người bị lấy nội tạng hôm đó là một tử tù; không ai xin sự đồng ý và không ai biết tên người ấy. Tác giả xem lời kể này là một điểm khởi đầu, trước những vấn đề quy mô lớn hơn về sau.
Ngày 17/6/2019, China Tribunal, một tòa án nhân dân độc lập ở London, công bố phán quyết. Chủ tọa là Sir Geoffrey Nice, người từng chỉ đạo truy tố Slobodan Milošević tại Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ. Tòa áp dụng tiêu chuẩn chứng minh “vượt quá nghi ngờ hợp lý” của xét xử hình sự.
China Tribunal kết luận việc cưỡng bức lấy nội tạng từ tù nhân lương tâm đã diễn ra nhiều năm, trên quy mô đáng kể khắp Trung Quốc, cấu thành tội ác chống loài người; học viên Pháp Luân Công là một nguồn nội tạng, rất có thể là nguồn chính. Tòa cũng cho rằng không có bằng chứng việc này đã chấm dứt. Đây là hội đồng xét xử độc lập do xã hội dân sự thành lập, không có cảnh sát, nhà tù hoặc quyền cưỡng chế phán quyết; vai trò của nó là xem xét bằng chứng theo tiêu chuẩn hình sự và công bố kết luận.
Theo tác giả, công việc quy mô như vậy không thể do vài người thực hiện: lấy máu, kiểm tra tương thích, vận chuyển, phẫu thuật, ghi chép đều cần những con người cụ thể. Mỗi người có thể nói mình làm theo lệnh. Ông lập luận rằng câu trả lời Nuremberg đưa ra 80 năm trước — về khả năng lựa chọn đạo đức — vẫn còn ý nghĩa.
Tác giả cho rằng tại Trung Quốc, không gian lựa chọn rất hẹp, có thể chỉ còn việc không ký một chữ, không chuyển tiếp một video hay không bước vào phòng mổ. Nhưng hẹp không có nghĩa là không tồn tại; Tohti về sau cũng tìm thấy phần lựa chọn của mình.
Khi Streicher hô Purim trên giá treo cổ, ông ta nghĩ mình đang chứng kiến một lần bức hại khác nhằm vào mình. Theo tác giả, điều ông ta không nhìn thấy đến tận lúc chết là những dòng chữ được báo mình in hết tuần này tới tuần khác. Bài viết kết lại bằng lập luận: mệnh lệnh có thể do người khác ban ra, nhưng trách nhiệm gắn với người trực tiếp cầm dao mổ, và đó là người bản án sẽ ghi tên.
Tác giả: Thanh Phong (清風). Nguồn: The Epoch Times, “紐倫堡審判80年 奉命行事能免罪嗎”, 15/10/2026.
Bối cảnh — phần biên tập bổ sung
Nghị quyết H.Res.343 được Hạ viện Mỹ thông qua ngày 13/6/2016 nêu cuộc đàn áp Pháp Luân Công bắt đầu từ tháng 7/1999, mô tả các giá trị Chân–Thiện–Nhẫn của môn tu luyện và yêu cầu chấm dứt bức hại, trả tự do cho học viên cùng các tù nhân lương tâm. Nghị quyết lên án cưỡng bức thu hoạch nội tạng, kêu gọi điều tra độc lập, minh bạch về lạm dụng trong cấy ghép. Đây là lập trường của Hạ viện, không phải bản án hình sự đối với một cá nhân cụ thể. Toàn văn H.Res.343.
Nhận định về nguồn nội tạng trong bản dịch được quy cho kết luận năm 2019 của China Tribunal. Cơ quan này là hội đồng độc lập của xã hội dân sự, không có quyền cưỡng chế của một tòa án nhà nước. Các nguyên tắc pháp lý lịch sử được đối chiếu với Điều 8 Hiến chương Tòa án Quân sự Quốc tế và các nguyên tắc Nuremberg năm 1950 của Ủy ban Luật pháp Quốc tế.


