Thứ Bảy, 31.10.2026Tiếng Việt / Hoa Kỳ
Giới thiệu
DKN.TVĐại Kỷ Nguyên — Mang đến giá trị cuộc sống
Văn hóa

“Tài cao tám đấu” nói về ai? Những điển tích trong một chữ “đấu”

Ngước nhìn về phương Bắc vào đêm hè, người ta thường nhận ra chiếc gáo lớn do bảy ngôi sao sáng tạo thành. Người Trung Quốc gọi đó là Bắc Đẩu. Nhưng trước khi trở thành một dấu mốc nổi bật trên bầu trời, “đấu” vốn chỉ là vật dụng đong đo rất quen thuộc trong sinh hoạt của người xưa.

Tuệ Minh ·
Ảnh minh hoạ chiếc đấu đong gạo và đồ dùng thư phòng cổ, gợi chủ đề những thành ngữ có chữ đấu.
Ảnh minh hoạ

Ngước nhìn về phương Bắc vào đêm hè, người ta thường nhận ra chiếc gáo lớn do bảy ngôi sao sáng tạo thành. Người Trung Quốc gọi đó là Bắc Đẩu. Nhưng trước khi trở thành một dấu mốc nổi bật trên bầu trời, “đấu” vốn chỉ là vật dụng đong đo rất quen thuộc trong sinh hoạt của người xưa.

Qua hàng nghìn năm, chiếc đấu không chỉ được đưa lên trời mà còn đi sâu vào ngôn ngữ. Đào Uyên Minh không chịu khom lưng vì “năm đấu gạo”; Tào Thực một mình chiếm “tám đấu tài”; Khổng Tử dùng “đấu sao chi nhân” để nói người hẹp hòi; sứ giả thời Tam Quốc lại dùng “xa tải đấu lượng” để nói nhân tài nhiều vô kể. Những thành ngữ tưởng chừng không liên quan ấy cùng nằm trong một chữ “đấu”, lưu giữ dấu vết văn chương và lịch sử.

Chữ “đẩu” trong Bắc Đẩu vốn là gì?

Ngày nay, nhắc đến chữ 斗, nhiều người nghĩ ngay đến Bắc Đẩu Thất Tinh. Nhưng ban đầu, chữ này chỉ đồ chứa và dụng cụ đo dung tích.

“Hán thư – Luật lịch chí” ghi rằng mười thăng hợp thành một đấu, mười đấu thành một thạch. Khi mua gạo, thu tô hay phát bổng lộc, người xưa đều dùng những đơn vị này. Bởi vậy, nhìn bảy ngôi sao trên bầu trời phương Bắc, họ dễ liên tưởng đến chiếc đấu thường dùng.

Lưu Thiện, người con của Lưu Bị mà bài nguồn cho rằng bị lịch sử hiểu lầm, thường được biết đến qua biệt danh A Đẩu, cũng gắn với một câu chuyện như thế. Tương truyền, trước khi sinh ông, Cam phu nhân mơ thấy mình ngửa mặt nuốt Bắc Đẩu, nên khi đứa trẻ ra đời đã đặt tên gọi ở nhà là A Đẩu. Chuyện được ghi trong “Thập di ký”, do Bùi Tùng Chi dẫn trong phần chú giải “Tam quốc chí”.

Về sau xuất hiện câu tục ngữ “A Đẩu không thể nâng đỡ”. Trong tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” và ấn tượng dân gian, Lưu Thiện không cầu tiến, dù được Gia Cát Lượng hết lòng phò tá vẫn không tránh khỏi mất nước; đến Lạc Dương còn để lại câu chuyện “vui đến quên đất Thục”.

Lý Bạch uống một đấu rượu, làm trăm bài thơ

Trong “Ẩm trung bát tiên ca”, Đỗ Phủ viết về Lý Bạch: “Lý Bạch đấu tửu thi bách thiên, Trường An thị thượng tửu gia miên” – Lý Bạch uống một đấu rượu làm trăm bài thơ, ngủ tại quán rượu giữa chợ Trường An.

“Đấu” ở đây là đơn vị dung tích. Dụng cụ múc rượu thời cổ có hình chiếc gáo với cán dài và phần đầu để đựng rượu, chủ yếu dùng múc rượu từ bình lớn. “Kinh Thi” có câu nói rằng phương Bắc có Đẩu nhưng không thể dùng để múc rượu, cho thấy người thời ấy rất quen thuộc với loại đồ đựng này.

Sau đó, “đấu tửu bách thiên” trở thành thành ngữ chỉ người có ý thơ nhanh nhạy, uống hào sảng mà giỏi làm thơ.

Trong “Sử ký – Hạng Vũ bản kỷ”, trước khi thoát khỏi tiệc Hồng Môn, Lưu Bang để lại hai món quà: một đôi bạch bích tặng Hạng Vũ và một đôi ngọc đấu tặng Phạm Tăng. “Đấu” trong trường hợp này cũng là đồ đựng rượu.

Hạng Vũ nhận bạch bích khiến Phạm Tăng đứng bên giận dữ. Cho rằng Hạng Vũ bỏ lỡ cơ hội giết Lưu Bang, Phạm Tăng đặt đôi ngọc đấu xuống đất, rút kiếm đập vỡ và nói câu nổi tiếng: “Thằng trẻ con này không đủ để cùng mưu việc lớn!”

Không khom lưng vì năm đấu gạo

Một trong những điển tích nổi tiếng nhất có chữ “đấu” gắn với Đào Uyên Minh. Vào niên hiệu Nghĩa Hy thời Đông Tấn, ông làm huyện lệnh Bành Trạch. Một hôm, quận cử đốc bưu đến thị sát. Viên lại trong huyện nhắc ông phải ăn mặc chỉnh tề, thắt đai để ra đón.

Đào Uyên Minh không vui, nói: “Ta không vì năm đấu gạo mà khom lưng”. Nói rồi, ông tháo ấn, từ quan về nhà. Điển tích này về sau biểu thị việc không đánh mất khí tiết vì chút bổng lộc hay lợi ích.

Chữ “đấu” ở đây không phải lượng từ tùy tiện. Bổng lộc quan lại thời xưa thường tính bằng lương thực; thăng, đấu, thạch vốn là đơn vị đong ngũ cốc. Vì thế, “năm đấu gạo” trở thành cách gọi khoản bổng lộc nhỏ nhoi.

Sau này còn có cụm “thăng đấu tiểu dân”. Thăng nhỏ hơn đấu; những thăng, đấu gạo tượng trưng cho chút gia sản và những nhu cầu gạo, muối hằng ngày, nên cụm từ dần được dùng để chỉ người dân bình thường.

“Tài cao tám đấu” chỉ ai?

Nếu chiếc đấu đong được gạo, liệu có thể dùng nó để đong tài văn chương? Từ đó xuất hiện một cách nói nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc: “tài cao tám đấu”.

Tào Thực sống vào thời Tam Quốc, là con trai thứ ba của Tào Tháo, tự Tử Kiến. Từ nhỏ ông thông minh, đặc biệt giỏi thơ văn. Tương truyền, khoảng mười tuổi ông đã viết được văn, lời lẽ hoa mỹ, ý tứ nhanh nhạy. Tào Tháo rất yêu mến người con này, từng có ý để ông kế vị. Người thời ấy gọi Tào Thực là “Tú Hổ”, ý nói văn tài rực rỡ, khí chất nổi bật.

Nhưng sau khi Tào Phi lên ngôi, hoàn cảnh của Tào Thực thay đổi đột ngột. Hai anh em vốn có hiềm khích từ việc tranh ngôi kế vị; Tào Phi đề phòng và chèn ép em.

Câu chuyện nổi tiếng nhất về sau là “bảy bước thành thơ”. Tương truyền Tào Phi buộc Tào Thực phải làm thơ trong bảy bước, nếu không sẽ trị tội. Tào Thực liền ngâm: “Nấu đậu đốt cành đậu, đậu ở trong nồi khóc. Vốn sinh từ một gốc, sao đốt nhau quá gấp”. Hình ảnh hạt đậu và cành đậu cùng gốc được dùng để ví việc anh em bức bách nhau; bài thơ lưu truyền qua nhiều thế kỷ.

Đến thời Lưu Tống thuộc Nam triều, nhà thơ Tạ Linh Vận tuy tự phụ về tài năng nhưng hết sức ngưỡng mộ Tào Thực. Tương truyền, ông từng nói rằng nếu văn tài thiên hạ tổng cộng là một thạch, riêng Tào Tử Kiến chiếm tám đấu, bản thân ông chiếm một đấu, người còn lại trong thiên hạ cùng chia một đấu.

Bởi vậy, đời sau dùng “bát đấu chi tài” hay “tài cao bát đấu” để chỉ người có văn tài xuất chúng.

“Đấu sao chi nhân” và “xa tải đấu lượng”

Chiếc đấu không chỉ dùng để khen người. Trong thiên “Tử Lộ” của “Luận Ngữ”, Khổng Tử nói: “Ôi! Đấu sao chi nhân, hà túc toán dã?” Ý nói những người giống như chiếc đấu, chiếc giỏ nhỏ, khí lượng hẹp hòi và kiến thức nông cạn thì sao đáng kể là nhân tài.

“Sao” là giỏ tre tròn hoặc chữ nhật dùng vo gạo, dung tích chừng một đấu hoặc ít hơn. Đấu và sao đều là vật chứa nhỏ, nên ghép lại thành cách nói về người thiếu độ lượng và tầm nhìn.

Đến thời Tam Quốc lại có thành ngữ mang hướng nghĩa khác: “xa tải đấu lượng” – chở bằng xe, đong bằng đấu.

Khi sứ giả nước Ngô là Triệu Tư sang Ngụy, Ngụy Văn Đế Tào Phi hỏi nước Ngô có bao nhiêu người tài như ông. Triệu Tư đáp rằng người thông minh hơn mình có tám, chín chục; còn người ở trình độ như mình thì “xa tải đấu lượng, bất khả thắng số” – có thể chở bằng xe, đong bằng đấu, nhiều không kể xiết.

Thay vì chỉ nói “rất nhiều”, ông diễn đạt rằng người như mình có thể chở cả xe rồi lấy đấu đong. Câu trả lời vừa đề cao nước Ngô, vừa tránh trực tiếp khoe bản thân.

“Khí xung Đẩu Ngưu”: truyền thuyết về bảo kiếm

Khi chữ “đẩu” lại gặp các vì sao, có thêm truyền thuyết “khí xung Đẩu Ngưu”. “Đẩu” ở đây là sao Đẩu, một trong nhị thập bát tú, còn gọi Nam Đẩu Lục Tinh; “Ngưu” là sao Ngưu ở bên cạnh. Theo bài nguồn, hai chòm sao thuộc vùng trời Huyền Vũ trong hệ thống tinh tú cổ. Sáu ngôi sao của Đẩu nằm ở khu vực chòm Nhân Mã theo cách gọi hiện đại, có hình giống gáo múc nước hay rượu nên được gọi là Nam Đẩu.

Theo truyền thuyết trong “Tấn thư – Trương Hoa truyện”, vào cuối thời Tam Quốc, đầu Tây Tấn, đại thần Trương Hoa am hiểu thiên văn nhận thấy vùng trời giữa Đẩu và Ngưu thường có ánh tím đỏ bí ẩn. Nhiều nhà chiêm tinh cho đó là dấu hiệu vận nước Đông Ngô hưng thịnh, nhưng Trương Hoa không nghĩ vậy.

Sau khi Tây Tấn diệt Đông Ngô, ánh tím không mất đi mà càng sáng. Thấy lạ, Trương Hoa mời Lôi Hoán, người nổi tiếng về thiên văn, bói đoán lúc bấy giờ, cùng lên lầu quan sát.

Trong câu chuyện, Lôi Hoán nói đó không phải thiên tai hay vận nước, mà là ánh sáng của bảo kiếm chôn dưới đất: tinh khí quá sắc bén xuyên qua đất, chiếu lên vùng sao Đẩu và Ngưu.

Trương Hoa mừng rỡ hỏi nơi chôn kiếm. Lôi Hoán đoán ở Phong Thành thuộc quận Dự Chương, gần thành phố Phong Thành, tỉnh Giang Tây ngày nay. Để tìm kiếm, Trương Hoa bố trí cho Lôi Hoán làm huyện lệnh Phong Thành.

Tương truyền, sau nhiều lần dò hỏi, Lôi Hoán xác định vị trí dưới nền nhà ngục của huyện nha. Ông cho đào sâu hơn bốn trượng, tìm được hộp đá đựng hai thanh kiếm sáng lạnh, trên thân khắc tên: Long Tuyền và Thái A.

Truyền thuyết kể rằng ngay đêm đào được kiếm, ánh tím giữa Đẩu và Ngưu biến mất. Một kiếm thuộc Trương Hoa, một kiếm do Lôi Hoán giữ; hàng chục năm sau, hai kiếm hóa thành đôi rồng xuống nước.

Nhà thơ Thôi Dung thời Đường viết trong “Vịnh bảo kiếm”: “Hạp khí xung Ngưu Đẩu, sơn hình chuyển lộc lô”, gợi chuyện bảo kiếm nằm trong hộp nhưng kiếm khí vươn lên trời.

Về sau, Tô Đông Pha đi thuyền trên sông Xích Bích, ngước nhìn trời đêm và viết câu trăng mọc từ núi Đông, quanh quẩn giữa Đẩu Ngưu. Vùng sao trong lời thơ cũng chính là vùng trời gắn với câu chuyện Trương Hoa và Lôi Hoán.

Tài liệu được bài nguồn tham khảo gồm “Hán thư – Luật lịch chí”, “Tống thư – Ẩn dật truyện”, “Luận Ngữ – Tử Lộ”, phần chú giải “Tam quốc chí” của Bùi Tùng Chi dẫn “Ngô thư”, “Thuyết văn giải tự”, cùng “Trùng biên Quốc ngữ từ điển tu đính bản”, “Thành ngữ điển” và “Dị thể tự tự điển” của cơ quan giáo dục Đài Loan.

Nguồn: The Epoch Times tiếng Trung, loạt bài “Mặc Xuyên nói thành ngữ”. Những chi tiết thần kỳ trong các điển tích được trình bày theo truyền thuyết và văn bản cổ.

DKN.TV

Tìm kiếm trên DKN