Thứ Tư, 21.10.2026Tiếng Việt / Hoa Kỳ
Giới thiệu
DKN.TVĐại Kỷ Nguyên — Mang đến giá trị cuộc sống
Nghệ thuật

Vẻ đẹp thư pháp kim văn trên đỉnh Mao Công

Đỉnh Mao Công là đồ đồng cuối thời Tây Chu, lấy tên người cho làm là Mao Công. Hiện vật được khai quật năm Đạo Quang thứ 23 nhà Thanh, tức 1843, tại Kỳ Sơn, Thiểm Tây. Đỉnh cao 53,8 cm, đường kính miệng 47,9 cm, nặng 34,5 kg, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc. Đây là lễ khí trang nhã, đường bệ, cùng Tản Thị bàn, Đại Vu đỉnh và Quắc Quý Tử Bạch bàn được gọi là bốn bảo vật lớn.

Tuệ Minh ·
Ảnh minh hoạ bút lông, nghiên mực và chất liệu đồ đồng; không tái tạo đỉnh Mao Công.
Ảnh minh hoạ.

Đỉnh Mao Công là đồ đồng cuối thời Tây Chu, lấy tên người cho làm là Mao Công. Hiện vật được khai quật năm Đạo Quang thứ 23 nhà Thanh, tức 1843, tại Kỳ Sơn, Thiểm Tây. Đỉnh cao 53,8 cm, đường kính miệng 47,9 cm, nặng 34,5 kg, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc. Đây là lễ khí trang nhã, đường bệ, cùng Tản Thị bàn, Đại Vu đỉnh và Quắc Quý Tử Bạch bàn được gọi là bốn bảo vật lớn.

Minh văn có 32 dòng, 497 chữ, cũng có cách đếm 500 chữ, nổi tiếng vì độ dài trong các minh văn đồ đồng. Nhà thư pháp, giáo dục cuối Thanh Lý Thụy Thanh từng đề rằng minh văn Mao Công là văn tự nơi triều đường nhà Chu, văn chương như Thượng Thư; học viết chữ mà không học Mao Công đỉnh cũng như nho sinh không đọc Thượng Thư.

Từ đó, giới thư pháp lưu truyền lời rằng không học Mao Công đỉnh thì dù dụng công cũng uổng. Đây là quan điểm của một số nhà thư pháp, học giả, nhưng phản ánh vị trí nổi bật trong lịch sử thư pháp và giá trị văn hóa của minh văn. Từ cuối Thanh, đầu Dân Quốc tới nay, người yêu kim văn thường thưởng đọc, mô phỏng, đặc biệt những người luyện và sáng tác kim văn yêu vẻ đẹp phong cách truyền thống của hiện vật này.

Minh văn ghi việc Chu Tuyên Vương muốn chấn hưng triều chính cuối Tây Chu, sắc mệnh trọng thần Mao Công thống lĩnh bách quan, chăm việc công, không tư lợi, rồi ban lễ phục và hậu thưởng. Để tạ ơn, Mao Công cho đúc đỉnh khắc việc ấy, mong truyền lại đời sau.

Với văn phong cổ nhã, sâu sắc, minh văn thể hiện kỳ vọng của Tuyên Vương; vừa chứng thực tổ chức hành chính và chế độ điển chương Tây Chu, vừa cung cấp tư liệu về cuộc trung hưng thời Tuyên Vương và nhân vật Mao Công ít thấy trong văn hiến, có giá trị nghiên cứu lịch sử.

Minh văn và tư tưởng thuận đạo

Minh văn chia năm phần, mở bằng “Vương nhược viết”, “Vương viết”, tương tự thể thức “Văn hầu chi mệnh” trong Thượng Thư. Phần đầu nhắc đến Văn Vương, Vũ Vương với đức sáng, được Trời trao thiên mệnh, gây dựng nhà Chu, vỗ về các phương quốc để cùng hưởng ánh sáng của hai vị vua.

“Vương nhược viết” thường gặp trước những lời mệnh hoặc cáo của vua trong Thương Thư, Chu Thư, có vai trò dẫn dắt toàn bài. Tuyên Vương gọi Mao Công là “Phụ Âm”, theo cách giải thích của tác giả cho thấy đây là một bậc trưởng bối cùng tông tộc họ Cơ, tức chú của vua.

Phần đầu là lời huấn cáo, nhớ việc Văn Vương, Vũ Vương nhận thiên mệnh, lập nước, đồng thời thể hiện sự dè dặt, kính sợ của Tuyên Vương với thiên mệnh mình kế thừa. Lời khắc tiếp theo nói Hoàng Thiên không chán bỏ, trông nom bảo hộ nhà Chu, củng cố thiên mệnh của tiên vương.

Tác giả nhận thấy ở đây tư tưởng đức trị “lấy đức xứng với Trời”: vua nhà Chu tu dưỡng, thận trọng, cần mẫn để phù hợp thiên ý, tiếp nối người trước và giữ thiên mệnh. Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”, “kính trời bảo dân” cũng góp phần hình thành hướng thẩm mỹ coi đức là đẹp, trọng nhân cách và nội hàm tinh thần, là cốt lõi khi phẩm bình thư pháp kim văn Tây Chu.

Đọc vẻ đẹp thư pháp trên đồ đồng

Trước rất nhiều bản dập minh văn Mao Công, tác giả ngạc nhiên rằng trước khi kỹ thuật làm giấy phát triển thời Đông Hán, thư pháp Trung Hoa gần như đều phát triển trên những vật mang chữ: giáp cốt, đồ đồng, đồ đo lường, thẻ tre gỗ, gạch ngói gốm và đá vách núi. Qua bản dập, chúng được lưu truyền, cùng nét mực trên giấy tạo nên diện mạo sinh động. Mao Công đỉnh là một mẫu mực của thư pháp trên vật mang chữ, thể hiện trình độ cao của nghệ thuật Tây Chu và trở thành điển hình cho thư pháp kim văn ngày nay.

Vì yêu kim văn cổ, đầu thập niên 1990, tác giả mua cuốn “Lưỡng Chu kim văn tuyển” xuất bản tại Thượng Hải, gồm 30 bài minh văn tinh tuyển, coi là sách học quý. Hơn ba mươi năm, ông nghiên cứu, đọc, mô phỏng rồi sáng tác. Đặc biệt, nghệ thuật cổ kính của Mao Công đỉnh mở rộng tầm nhìn, đem lại những thể hội sau.

Bốn phương diện nghệ thuật

Thứ nhất, kết cấu chữ thiên về chiều dọc và nhiều biến hóa. Kết cấu, còn gọi là bố bạch, trong toàn bài có nét thanh, khỏe, dài, thế vươn cao; chữ lớn nhỏ đan xen tự nhiên. Tổng thể ngay ngắn, nét cân đối, đầy đặn, trang nghiêm, tĩnh lặng. Nhìn kỹ lại thấy nét khác nhau rõ: nhẹ và nặng, chuyển và gập, kết thúc nhọn hay tròn; chữ vuông, dài, ngay, nghiêng, tạo cảm giác nội hàm cô đọng và hướng lên.

Thứ hai, nét nối và chồng bút rõ rệt. Minh văn dài, nhiều chữ nhưng tổng thể tự nhiên; cách dùng bút chủ yếu giữ ngọn bút ở giữa nét, thu ngọn vào trong. Từng chữ tưởng như viết liền một lượt, thực ra nhiều chữ hình thành bằng nối hoặc chồng nét. Có thể nhận ra nét trước chưa diễn đạt trọn ý thì nét sau tiếp hoàn thành, hai nét chồng lên, giấu dấu nối trong đường bút; người thường nghiên cứu thư pháp mới cảm được sự tinh tế. Một số nét cong cũng cần hai hoặc nhiều lần bút, nối trực tiếp, nối thuận hay nối ngược để đầu cuối cung liền nhau, không lộ vết ngọn bút ở chỗ tiếp.

Thứ ba, ngọn bút thu vào trong. Các chữ liên hệ nhau, phân bố có nhịp. Nhiều nét bắt đầu theo hướng ngược, “muốn sang phải trước sang trái, muốn xuống dưới trước lên trên”, rồi giữ trung phong để đường nét đầy đặn, thẳng khỏe, đường viền sáng, đều. Cũng có cách xoay cán bút, gọi là giảo phong, tạo nét mộc, già dặn. Cách giữ đầu bút ở giữa nét và giữ hình tròn đầy khi khởi bút đã được vận dụng gần ba nghìn năm trước, cho thấy giá trị thẩm mỹ cao của minh văn.

Thứ tư, bố cục có thú vị riêng. Nương theo độ cong bên trong đỉnh, người thợ kết hợp kỹ thuật đúc phức tạp với tạo hình, kích thước, câu chữ và vị trí viết. Thế chữ dọc phân bố theo vật thể tạo vẻ đẹp đường cong vươn từ đáy lên; chữ cong thẳng, nghiêng ngay, lớn nhỏ xếp theo cung, bút pháp nghiêm cẩn, đường nét cô đọng. Nhìn toàn bài có hàng dọc mà không thành hàng ngang cứng nhắc, rộng lớn, mạnh mẽ nhưng không cuồng lạ, mộc mạc mà vẫn linh động, tự nhiên.

Hoa văn và chữ đúc khắc trên lễ khí đồng thường thể hiện tư tưởng, đời sống và tinh thần thời Thương, Chu. Mao Công đỉnh miệng lớn, bụng tròn, trên vành có hai tai lớn, dưới bụng ba chân hình móng thú. Dáng đỉnh đoan chính, dày vững, kết hợp phong cách chữ chất phác, trầm hùng và việc Tuyên Vương giao trọng trách, càng tạo vẻ trang trọng, tĩnh nghiêm.

Tác giả còn giới thiệu câu đối tự soạn, tự viết bằng kim văn: “Đại đức duy dung, kính thiên dương thiện; Thượng trí bất hoặc, tôn sư vi tiên” — đức lớn biết dung, kính Trời nêu thiện; trí cao không mê, trọng thầy trước hết.

Tác giả: Lưu Tích Đồng (劉錫銅). Nguồn: The Epoch Times.

Ghi chú biên tập: Bản nguồn ghi Đạo Quang 22 nhưng quy đổi là 1843; đã sửa niên hiệu thành Đạo Quang 23 để khớp năm 1843 theo tư liệu Bảo tàng Cố Cung.

DKN.TV

Tìm kiếm trên DKN