Thứ Tư, 14.10.2026Tiếng Việt / Hoa Kỳ
Giới thiệu
DKN.TVĐại Kỷ Nguyên — Mang đến giá trị cuộc sống
Văn hóa

Giỏ đi thi của sĩ tử xưa: từ bút mực đến căn bếp thu nhỏ

Một chiếc giỏ đi thi của sĩ tử thời Thanh có thể chứa cả bút mực, thức ăn, nồi bát, đèn nến, rèm cửa và đồ dùng sinh hoạt. Có người còn gắn bánh xe dưới hòm để kéo đi, gợi liên tưởng tới chiếc vali ngày nay.

Tuệ Minh ·
Ảnh minh hoạ thư phòng cổ với giấy, bút và nghiên mực; không phải ảnh di vật hoặc buồng thi thời Thanh.
Ảnh minh hoạ

Một chiếc giỏ đi thi của sĩ tử thời Thanh có thể chứa cả bút mực, thức ăn, nồi bát, đèn nến, rèm cửa và đồ dùng sinh hoạt. Có người còn gắn bánh xe dưới hòm để kéo đi, gợi liên tưởng tới chiếc vali ngày nay.

Ngày nay, trước khi bước vào kỳ thi tuyển sinh đại học, thí sinh thường lo quên giấy báo dự thi, giấy tờ tùy thân hoặc vài cây bút tốt. Nhưng nếu quay ngược thời gian khoảng hai trăm năm, một tú tài thời Thanh chuẩn bị dự thi hương không chỉ cầm túi văn phòng phẩm nhỏ, mà mang theo một chiếc “khảo lam” — giỏ đi thi — được nhét đầy đồ.

Bút, mực, giấy, nghiên phải mang; thức ăn, nồi bát, đèn nến, rèm cửa cũng phải mang. Có người tự chuẩn bị cả lò nhỏ, gối, chậu rửa mặt và chăn đệm. Bởi bước vào trường thi, họ không trải qua hai, ba giờ làm bài, mà phải dự ba đợt thi hương, mỗi đợt ba ngày hai đêm. Cả ba đợt thường được ví với cuộc đua đường dài “chín ngày sáu đêm”.

Người đọc sách có thể trụ đến cuối hay không, bài văn tất nhiên quan trọng; đôi khi việc sắp xếp giỏ đi thi cũng rất quan trọng.

Một chiếc giỏ gần như một chiếc vali

Tiểu thuyết thời Thanh miêu tả giỏ đi thi rất sinh động. Hồi 42 của Nho lâm ngoại sử, Ngô Kính Tử kể hai anh em Thang Do, Thang Thực chuẩn bị vào trường thi, trước hết liệt kê hàng loạt dụng cụ: giỏ thi, ấm đồng, tấm che phía trên buồng thi, rèm cửa, lò, chân nến, kéo cắt bấc và túi đựng bài.

Sau đó, họ chuẩn bị bánh trung thu, bánh cam mật, hạt sen, long nhãn, nhân sâm, gạo rang, dưa muối, gừng và vịt ép. Cuối cùng, hai anh em còn tự kiểm từng thứ thật kỹ, bởi chuyện công danh quan trọng, không thể qua loa.

Nhiều đến vậy sao? Nhưng đây không chỉ là sự phóng đại của tiểu thuyết gia.

Học giả Nhan Khánh Dư, người nghiên cứu dụng cụ thi cử thời Thanh, sau khi khảo sát thơ văn, hồi ký và tiểu thuyết đương thời, nhận thấy đồ sĩ tử mang vào trường thi có thể chia thành mấy nhóm: giỏ để đựng đồ; bút, mực, nghiên, bình rót nước, túi đựng bài; đồ sinh hoạt như tấm che trên buồng thi, rèm cửa, vải lót bài, gối; cùng lò, dụng cụ nấu nướng và thức ăn.

Vùng Hàng Châu thậm chí thịnh hành loại giỏ ba tầng. Đến cuối thời Thanh, có người thấy giỏ quá nặng, bèn lắp bốn bánh xe dưới hòm, dùng dây kéo đi, khá giống vali kéo ngày nay.

Rèm cửa và tấm che cũng phải tự mang

Vào trường thi, sĩ tử được phân một gian nhỏ gọi là “hiệu xá”, tức buồng thi.

Buồng thi lớn đến đâu? Loại ở trường thi Giang Nam thường chỉ rộng khoảng ba thước, sâu bốn đến sáu thước theo đơn vị đo truyền thống. Hai bên tường có rãnh gạch để đặt hai tấm ván. Ban ngày, một tấm làm bàn, một tấm làm ghế; ban đêm ghép lại thành chiếc giường hẹp.

Nơi ấy vừa là phòng thi, vừa là phòng ngủ, vừa là chỗ ăn cơm. Trong khi đó, nhiều buồng không có cửa thực sự.

Vì thế sĩ tử còn phải mang rèm vải dầu. Kỳ thi hương mùa thu tổ chức vào tháng tám âm lịch, trời nóng bí và dễ gặp mưa thu. Rèm giúp chắn gió, chắn mưa; tấm che được phủ lên phía trên buồng thi.

Thời Thanh có người làm thơ riêng cho những dụng cụ ấy. Hai câu viết về rèm vải dầu có ý: lớp dầu cốt để chống cơn mưa thu bất chợt, nhưng tấm vải thô khó ngăn ngọn gió sớm sắc lạnh. Vải quét dầu có thể chặn mưa rào, song hơi lạnh buổi sáng vẫn luồn vào.

Qua một kỳ thi, điều được thử thách rõ ràng không chỉ là tài viết văn. Sĩ tử còn phải chịu nóng, chịu lạnh, chịu mưa và chịu muỗi.

Tấm vải vừa lót bài, vừa trải bàn ăn

Trong giỏ còn có một thứ khá xa lạ với người nay: “quyển bố”, tấm vải lót bài. Khi viết, vải được trải trên ván, phía dưới bài làm, để giấy không bị mài hỏng hoặc ảnh hưởng tới nét mực. Đến bữa ăn, gấp lại là có thể dùng như khăn trải bàn.

Đó mới thực sự là đồ dùng sinh tồn trong trường thi.

Điều thú vị nhất vẫn là chuyện ăn. Mỗi đợt kéo dài ba ngày hai đêm, không thể đói bụng viết văn, nên sĩ tử phải chuẩn bị thức ăn mang vào trường.

Trong Nho lâm ngoại sử, đồ ăn của anh em họ Thang khá cầu kỳ: bánh trung thu, bánh cam mật, hạt sen, long nhãn, nhân sâm, gạo rang, dưa muối, gừng, vịt ép, không thiếu thứ nào. Nhìn là biết gia cảnh tương đối khá giả.

Người có tiền còn mang giăm bông, gà vịt, bánh tinh chế và đồ bổ. Thí sinh bình thường chú trọng thứ để được lâu, rẻ và dễ nấu. Gạo rang, gạo, bột mì, dưa muối đều thiết thực. Gạo rang đặc biệt thích hợp với kỳ thi mùa thu: trời còn nóng, đồ chín dễ hỏng, còn gạo rang giữ được lâu, thêm nước là ăn được.

Trong hồi ức của sĩ tử cuối thời Thanh, chiếc ghế thi thậm chí được nhét gạo, thức ăn kèm, nồi đồng nhỏ, than, giấy và ấm trà; giỏ thi chứa bát, đũa, trà và nến.

Nói cách khác, thứ họ mang vào không phải một bữa trưa, mà là cả căn bếp thu nhỏ.

Gà vịt vào trường cũng phải qua kiểm tra

Vấn đề là thức ăn cũng có thể giấu tài liệu gian lận. Vì vậy, khi khám xét trước lúc vào trường, bánh phải cắt ra và thức ăn cũng phải kiểm tra. Quy định khi Lâm Tắc Từ chủ trì kỳ thi hương Giang Nam nêu rõ bánh mang theo phải được cắt ra xem xét. Các ghi chép khác cho biết màn thầu, bánh bao phải bẻ ra, gà vịt đã nấu cũng có thể bị chặt để kiểm tra.

Bởi thế có một cảnh tượng người nay thấy khá buồn cười: sĩ tử vất vả mang con vịt ép và gói bánh tới, vừa đến cổng trường thi đã bị người kiểm tra cắt thành nhiều mảnh.

Không phải giám khảo tham ăn, mà vì sợ người dự thi giấu Tứ thư trong bụng vịt.

Đáng ngại nhất là buồng gần nhà vệ sinh

Mang đủ đồ chưa có nghĩa mọi việc đều thuận lợi. Vị trí buồng thi cũng quan trọng. Cuối mỗi dãy thường có nhà vệ sinh; buồng càng gần đó thì mùi càng nặng, dân gian gọi là “xú hiệu” hoặc “để hiệu”. Tư liệu về trường thi Quảng Đông ghi rằng cuối ngõ gần nhà vệ sinh có mùi hôi không chịu nổi. Tháng tám âm lịch vốn nóng bí, lại thêm hàng vạn thí sinh tập trung, hoàn cảnh ấy không khó hình dung.

Bồ Tùng Linh trải qua phần lớn đời mình với khoa cử nên hiểu rõ những ngày như vậy. Liêu trai chí dị có đoạn tả sĩ tử lúc vào trường: chân trần xách giỏ, giống người ăn xin; khi ra trường, tinh thần ngơ ngác, trời đất như đổi màu, giống chim bệnh vừa thoát lồng.

Vì thế, chiếc giỏ không nổi bật ấy thực ra là “túi sinh tồn chín ngày” của sĩ tử thời Thanh.

Nó chứa cả đồ dùng viết bài lẫn cơm ăn, có mực, nghiên, lò, rèm cửa, vịt ép và gạo rang. Người có tiền có thể nhét đầy như tủ thực phẩm nhỏ; nho sinh nghèo chỉ có thể tính toán, tận dụng từng chút không gian.

Trước khi bước qua cổng trường thi, sĩ tử còn phải mở giỏ để người khám xét kiểm tra từ trong ra ngoài. Qua được cửa ấy, tìm tới buồng, treo rèm, đặt lò, bày bút mực, kỳ thi có thể thay đổi vận mệnh cả gia đình mới thực sự bắt đầu.

Bài giới thiệu văn hóa khoa cử truyền thống, biên dịch đầy đủ từ The Epoch Times tiếng Trung, nguồn đăng ngày 29/9/2026. Nguồn bài.

Tài liệu tham khảo được bài nguồn liệt kê: Nhan Khánh Dư, “Thuyết khảo cụ”, Văn sử tri thức; Văn phòng Công tác Địa phương chí Nam Kinh, “Ký ức Nam Kinh: Lâm Tắc Từ và Nam Kinh”; tư liệu liên quan trường thi Giang Nam của cơ quan kiểm tra, giám sát Nam Kinh; tư liệu về trường thi Quảng Đông thuộc khu du lịch văn hóa đường Bắc Kinh, Quảng Châu.

DKN.TV

Tìm kiếm trên DKN