Vào tối ngày 2 tháng 12 năm 1967, bác sĩ ngoại khoa tim mạch người Nam Phi Christiaan Barnard đã thực hiện ca phẫu thuật ghép tim đầu tiên trên thế giới, bệnh nhân sống được 18 ngày sau phẫu thuật. Bệnh nhân thứ hai tiếp nhận phẫu thuật ghép tim là một nha sĩ 59 tuổi, ông là bệnh nhân ghép tim đầu tiên trên thế giới sống sót bước ra khỏi bệnh viện, sau đó ông sống thêm được 19 tháng.
Vào những năm 1970, tỷ lệ sống sót sau một năm của bệnh nhân ghép tim rất thấp, chỉ có 15%; đến những năm 1980, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân ghép tim đã tăng lên 50%. Cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật ghép tim và sự ra đời của các loại thuốc chống đào thải mới, tuổi thọ của bệnh nhân ghép tim ngày càng dài hơn. Hiện nay, bệnh nhân có thời gian sống lâu nhất sau khi ghép tim trên thế giới đã sống được hơn 28 năm. Tuy nhiên, kéo theo đó, phẫu thuật ghép tim lại gây ra nhiều câu chuyện “thay tim” kỳ diệu nhưng khó giải thích.
Năm 2008, tại bang Georgia (Mỹ) đã xảy ra một câu chuyện “thay tim” kỳ lạ. Ông Graham (69 tuổi) đã tiếp nhận phẫu thuật ghép tim vào 12 năm trước, người hiến tặng là anh Cottle (33 tuổi). Không lâu sau khi tiếp nhận phẫu thuật ghép tim, ông Graham đã quen biết vợ góa của Cottle, họ nhanh chóng rơi vào tình yêu cuồng nhiệt và nhanh chóng kết hôn. Tuy nhiên, điều bất hạnh là 12 năm sau khi ghép tim, ông Graham cũng kết thúc cuộc đời mình bằng một phát súng, giống hệt vận mệnh trước đó của người hiến tặng là Cottle.
Năm 2008, tờ “Daily Mail” của Anh đưa tin, ông Sheridan (63 tuổi) ở New York, Mỹ vì mắc bệnh tim nghiêm trọng nên đã tiếp nhận phẫu thuật ghép tim tại Bệnh viện Mount Sinai. Tuy nhiên, điều khiến các nhân viên y tế Bệnh viện Mount Sinai kinh ngạc là, trước khi phẫu thuật ghép tim, trình độ vẽ tranh của ông Sheridan chỉ ngang ngửa một đứa trẻ mẫu giáo, nhưng sau khi ghép tim, kỹ thuật hội họa của ông lại tiến bộ vượt bậc, vẽ ra nhiều tác phẩm có trình độ nghệ thuật cao khiến người ta kinh ngạc. Hóa ra, trái tim mới của Sheridan đến từ một họa sĩ nghiệp dư vừa qua đời vì tai nạn xe hơi.
Trung y cho rằng tim tàng chứa “Nguyên thần”
Trung y do Hoàng Đế truyền lại từ 5.000 năm trước, bản chất thuộc về “Thần truyền y học”, bắt nguồn từ “Thượng Đế” (Thiên Đế) của Đạo gia. Mọi luận thuật y học của Trung y đều phải căn cứ vào thánh kinh của Trung y là “Hoàng Đế Nội Kinh”. Vì vậy, Trung y về bản chất và phương pháp nghiên cứu có sự khác biệt một trời một vực so với Tây y.
“Hoàng Đế Nội Kinh” nói: “Tâm tàng Thần”, chính là tim tàng chứa “Nguyên thần”. “Nguyên thần” tương tự như cái mà tục xưng là “linh hồn”, thuộc về “vô hình”, mắt thường không nhìn thấy được, đây là điều mà y học phương Tây hoàn toàn không thể chạm tới và nghiên cứu; thế nhưng, “Nguyên thần” lại là thứ bắt buộc phải có để trở thành một con người hoàn chỉnh. “Hoàng Đế Nội Kinh” giảng: “Thất thần giả tử, đắc thần giả sinh dã” (Mất thần thì chết, được thần thì sống).
Có khái niệm Trung y về việc tim tàng chứa “Nguyên thần”, sẽ có thể hiểu được bí mật trong các câu chuyện thay tim thời xưa và nay. Thần y Biển Thước thi hành thuật đổi tim cho Công Hỗ và Tề Anh, đồng thời với việc đổi tim, vì tim tàng chứa Nguyên thần nên Nguyên thần cũng được đổi theo; cho nên, Công Hỗ nhận trái tim của Tề Anh, lúc này thân xác tuy gọi là Công Hỗ, nhưng trái tim và Nguyên thần đều là của Tề Anh, điều này giải thích tại sao Công Hỗ sau khi đổi tim lại quay về nhà Tề Anh, nhận vợ của Tề Anh; cùng đạo lý đó, Tề Anh lại quay về nhà Công Hỗ, nhận vợ của Công Hỗ.
Khi ông Graham tiếp nhận trái tim của Cottle, Nguyên thần của Cottle cũng cùng được cấy ghép sang, cho nên vẻ ngoài của ông Graham tuy vẫn gọi là Graham, nhưng cơ thể lại chứa Nguyên thần của Cottle, vì thế ông Graham rất nhanh đã nhận ra vợ góa của Cottle, họ nhanh chóng yêu nhau và kết hôn. Tương tự, sau khi ông Sheridan thay tim, cũng có những đặc điểm Nguyên thần của người hiến tặng, nên mới có thiên phú hội họa.
Cơ Đốc giáo phương Tây sớm đã có thuyết về “linh hồn”, điều này tương tự với lý thuyết “Nguyên thần” của Đạo gia phương Đông, có thể thấy “văn hóa Thần truyền” cổ đại đều cho rằng: Sinh mệnh con người không chỉ có thân thể “hữu hình”, mà còn ẩn chứa thành phần “vô hình”. Tuy nhiên, quan niệm “thực chứng” của y học phương Tây hiện nay quá hẹp hòi, chỉ tin vào những gì máy móc có thể kiểm chứng (phần hữu hình), mà không tin vào những thành phần mà máy móc không thể kiểm chứng (phần vô hình); điều này dẫn đến việc kỹ thuật y học có thể hoàn thành phẫu thuật ghép tim, nhưng lý thuyết y học lại không thể giải thích được những hiện tượng xảy ra sau khi ghép tim.
(Theo Secret China)