Thứ Bảy, 24.10.2026Tiếng Việt / Hoa Kỳ
Giới thiệu
DKN.TVĐại Kỷ Nguyên — Mang đến giá trị cuộc sống
Âm nhạc

Horatio Parker: Từ cậu bé không thích nhạc đến nhà soạn nhạc của Yale

Horatio Parker (1863–1919) là một trong những nhà soạn nhạc nổi bật của nhóm “Boston Six”, những người góp phần gây dựng nền nhạc cổ điển Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Từ một thiếu niên từng không thích âm nhạc, ông trở thành nghệ sĩ đàn đại phong cầm, nhà soạn nhạc thánh ca và người đứng đầu ngành âm nhạc của Đại học Yale.

Tuệ Minh ·
Ảnh minh hoạ đàn đại phong cầm trong một nhà thờ, không phải nơi biểu diễn cụ thể của Horatio Parker.
Ảnh minh hoạ.

Horatio Parker (1863–1919) là một trong những nhà soạn nhạc nổi bật của nhóm “Boston Six”, những người góp phần gây dựng nền nhạc cổ điển Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Từ một thiếu niên từng không thích âm nhạc, ông trở thành nghệ sĩ đàn đại phong cầm, nhà soạn nhạc thánh ca và người đứng đầu ngành âm nhạc của Đại học Yale.

Bước ngoặt ở tuổi 14

Parker sinh ngày 15/9/1863 tại Auburndale, bang Massachusetts. Ông học tại trường Williams ở địa phương nhưng thời thơ ấu không nổi bật về học tập. Theo bài viết của Tiffany Brannan trên The Epoch Times, mẹ ông kể rằng cậu bé từng không thích âm nhạc; điều đó thay đổi đột ngột vào tháng 10/1877, khi ông 14 tuổi.

Từ đó Parker liên tục hỏi về âm nhạc và dành gần như cả ngày bên đàn piano, có khi bắt đầu lúc rạng sáng và chỉ dừng khi cha gọi đi ngủ vào khoảng 11 giờ đêm. Việc học các môn khác phải thu xếp giữa những khoảng thời gian ông dành cho âm nhạc. Mẹ là người đầu tiên dạy Parker piano, lý thuyết âm nhạc và đàn đại phong cầm; gia đình còn lắp bộ bàn đạp đàn ở nhà để ông luyện tập.

Hai năm sau, Parker nhận công việc âm nhạc chuyên nghiệp đầu tiên: chơi đại phong cầm tại Nhà thờ St. Paul’s Episcopal ở Dedham, gần quê nhà. Về sau ông thừa nhận kỹ thuật khi ấy chưa tốt. Nhận ra cần nền tảng vững hơn, ông tới Boston học piano với John Orth, lý thuyết với Stephen A. Emery và sáng tác với George Whitefield Chadwick, một thành viên khác của nhóm Boston Six.

Từ Boston đến Munich

Parker bắt đầu sáng tác chưa đầy một năm sau khi tìm thấy niềm say mê âm nhạc. Trong giai đoạn đầu, ông phổ nhạc 50 bài đồng dao trong tập Under the Window của Kate Greenaway và viết 68 biến tấu trên một giai điệu quen thuộc. Con đường sáng tác nghiêm túc hơn mở ra khi ông tìm tới châu Âu để học nâng cao, như nhiều nhạc sĩ Mỹ đương thời.

Theo gợi ý của Chadwick, cha mẹ gửi Parker tới Munich, Đức, năm 1882. Tại Nhạc viện Hoàng gia ở đây, ông học với Josef Rheinberger, nghệ sĩ đại phong cầm và nhà soạn nhạc từng dạy Chadwick. Rheinberger giúp Parker nâng kỹ thuật biểu diễn đồng thời khuyến khích ông phát triển năng lực sáng tác. Trong thời gian học, Parker viết bản cantata đầu tiên và bản giao hưởng duy nhất của mình.

Người viết nhạc nhà thờ

Sau khi tốt nghiệp, Parker trở về Mỹ năm 1885. Cuối thập niên 1880 và đầu thập niên 1890, ông vừa làm nhạc công nhà thờ vừa giảng dạy. Ở khu vực New York, ông chơi đại phong cầm tại Nhà thờ Chính tòa Incarnation ở Garden City và dạy âm nhạc tại trường St. Paul’s của nhà thờ này. Sau đó, ông làm nghệ sĩ đại phong cầm kiêm chỉ huy hợp xướng ở Nhà thờ St. Andrew’s tại Harlem, chơi đàn ở Nhà thờ Holy Trinity tại Manhattan, rồi chuyển tới Boston đảm nhiệm vị trí tại Nhà thờ Trinity.

Những công việc ấy đi cùng việc sáng tác thánh ca, cantata, oratorio và nhạc cho đại phong cầm. Di sản được nhớ đến nhiều nhất của Parker là âm nhạc hợp xướng tôn giáo. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, oratorio Hora novissima viết năm 1893, phổ những đoạn văn thế kỷ 12 của tu sĩ Benedictine Bernard de Morlaix trong De contemptu mundi. Sau buổi ra mắt ở New York, tác phẩm được đón nhận rộng rãi tại Mỹ và Anh, góp phần đưa Parker vào hàng những nhà soạn nhạc Mỹ hàng đầu thời đó.

Opera, nhạc thính phòng và giải thưởng

Parker không chỉ viết nhạc tôn giáo. Ông còn để lại các bản overture cho dàn nhạc, ca khúc, concerto cho đại phong cầm và scherzo. Ở mảng thính phòng và nhạc cho nhạc cụ phím có tứ tấu dây, tam tấu piano, tổ khúc cho violin và piano, cùng nhiều tiểu phẩm, phác thảo âm nhạc và tác phẩm đại phong cầm.

Trong sự nghiệp, Parker viết hai vở opera, đều hợp tác với tác giả phần lời Brian Hooker. Vở đầu tiên, Mona, hoàn thành năm 1911, thắng cuộc thi sáng tác của Metropolitan Opera và đem về giải thưởng 10.000 USD. Nhà hát này dàn dựng tác phẩm vào năm kế tiếp với bốn buổi diễn. Hai người tiếp tục cộng tác trong Fairyland năm 1914; vở opera giành giải trong cuộc thi do National Federation of Women’s Music Clubs tài trợ và sau đó công diễn lần đầu ở Los Angeles.

Dấu ấn tại Yale

Sau thành công của Hora novissima, năm 1894 Parker được Đại học Yale trao bằng thạc sĩ danh dự và bổ nhiệm làm giáo sư lý thuyết âm nhạc mang tên Battell. Năm 1904, ông trở thành người đầu tiên giữ chức trưởng khoa âm nhạc của Yale và tiếp tục công việc ấy cho tới khi qua đời năm 1919. Trong thời gian ông lãnh đạo, bộ môn âm nhạc của trường phát triển thành một nơi đào tạo nhà soạn nhạc cổ điển có uy tín. Các học trò của ông gồm Quincy Porter, Roger Sessions và Charles Ives.

Thành tựu của Parker còn vượt ra ngoài nước Mỹ. Việc Hora novissima được trình diễn tại liên hoan Three Choirs ở Worcester, Anh, năm 1899 được xem là một cột mốc đối với tác phẩm sáng tác tại Mỹ. Đại học Cambridge trao cho ông bằng tiến sĩ danh dự năm 1902. Danh tiếng Parker về sau bị thế hệ nhà soạn nhạc tiếp theo che khuất, nhưng bài viết của The Epoch Times nhận định các tác phẩm của ông và nhóm Boston Six đang được quan tâm trở lại bởi vẻ đẹp, nét đổi mới và bản sắc Mỹ.

Nguồn: Tiffany Brannan, “Horatio Parker: Organist, Composer, and Professor”, The Epoch Times, 23/10/2026. Bản dịch và biên tập: Tuệ Minh.

DKN.TV

Tìm kiếm trên DKN