Đại Kỷ Nguyên

Trùng Dương trong thơ Đường và từ Tống: lên cao, ngắm cúc, nhớ người thân

Ảnh minh hoạ cảnh núi non mùa thu với hai người đi trên lối lên cao và hoa cúc phía trước.

Ảnh minh hoạ phong cảnh mùa thu; không phải địa điểm hay nhân vật lịch sử cụ thể.

Ảnh minh hoạ cảnh núi non mùa thu với hai người đi trên lối lên cao và hoa cúc phía trước.
Ảnh minh hoạ phong cảnh mùa thu; không phải địa điểm hay nhân vật lịch sử cụ thể.

Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, hai con số chín gặp nhau tạo thành tên gọi Trùng Dương. Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, ngày này gắn với việc lên cao, ngắm cúc, dùng bánh và nhớ đến người thân. Qua thơ Đường, từ Tống, cùng một dịp lễ còn mở ra nhiều tâm trạng: nỗi nhớ nhà, tình bạn, sự cô quạnh và suy ngẫm về tuổi già. DKN từng giới thiệu các phong tục và ý nghĩa chung của Tết Trùng Dương; bài này tập trung vào cách các thi nhân diễn tả chúng.

Lên cao để nhìn xa và nhớ người ở xa

Một tích truyện về tục đăng cao xuất hiện trong Tục Tề hài ký của Ngô Quân thời Nam triều. Theo truyền thuyết, Phí Trường Phòng báo trước cho Hoàn Cảnh rằng gia đình sẽ gặp tai họa vào ngày 9/9, dặn mọi người mang thù du, lên núi và uống rượu hoa cúc. Khi trở về, họ thấy gia súc trong nhà đã chết. Đây là câu chuyện dân gian giải thích phong tục, không phải một biến cố có thể xác nhận như sử liệu.

Đến thơ Đường, lên cao không chỉ mang ý cầu tránh điều dữ. Lư Chiếu Lân, trong bài Ngày 9 tháng 9 ngắm núi Huyền Vũ, nhìn núi sông mà thấy nỗi nhớ quê chồng chất. Người xa xứ cùng uống chén rượu cúc, nhìn cánh nhạn giữa trời thu và nghĩ đến quãng đường xa nhà.

Vương Duy cũng viết Ngày 9 tháng 9 nhớ anh em ở Sơn Đông khi còn trẻ. Ông không miêu tả một cuộc đoàn tụ có mình trong đó; thay vào đó, ông hình dung anh em ở quê cùng lên cao, cài thù du, rồi nhận ra vắng một người. Cách đổi góc nhìn ấy khiến nỗi nhớ thân nhân hiện lên qua một chỗ trống giữa cuộc vui.

Bài Đăng cao của Đỗ Phủ không nhắc tên lễ Trùng Dương, nhưng cảnh gió mạnh, trời cao, lá rụng và dòng Trường Giang chảy mãi khiến tác phẩm thường được đọc cùng mạch thơ thu, đăng cao. Trước không gian rộng lớn ấy là một con người phiêu bạt, bệnh tật và già đi giữa thời loạn. Cảnh vật và thân phận soi vào nhau, tạo nên giọng thơ trầm buồn đặc biệt.

Hoa cúc, chén rượu và cuộc gặp gỡ

Cúc nở giữa mùa thu nên trở thành hình ảnh quen thuộc của ngày Trùng Dương. Tây Kinh tạp ký chép tục hái cúc, phối với gạo nếp để ủ rượu, đợi tới Trùng Dương năm sau mới uống. Cũng theo sách này, người trong cung Hán từng cài thù du, ăn bánh và uống rượu cúc với ước nguyện trường thọ. Đó là ghi chép về tín niệm, tập tục cổ; không thể xem lời cầu trường thọ là chứng cứ về tác dụng chữa bệnh của rượu hay hoa cúc.

Đào Uyên Minh nhắc tới vườn cúc đầy hoa trong lời tựa Cửu nhật nhàn cư; hình ảnh hái cúc dưới giậu đông ở thơ ông về sau càng gắn với một lối sống thanh đạm, tự tại. Với Mạnh Hạo Nhiên, hoa cúc lại là lời hẹn giản dị. Cuối bài Qua nhà bạn cũ, sau bữa cơm nhà giữa làng quê, nhà thơ mong đến Trùng Dương sẽ trở lại cùng bạn ngắm cúc.

Sang thời Tống, Lý Thanh Chiếu đưa ngày lễ vào một không gian khác trong từ Túy hoa âm. Sương mỏng, mây dày, hơi lạnh lúc nửa đêm và hương cúc sau chén rượu khiến nỗi nhớ người thương hiện rõ. Nếu thơ Mạnh Hạo Nhiên giữ niềm vui chờ gặp lại, bài từ này đặt người đọc trước sự vắng mặt ngay giữa ngày hội.

Thù du và bánh: những vật nhỏ mang lời chúc

Cành thù du, theo các văn bản về lễ Trùng Dương, có thể được cài trên tóc, mang bên người hoặc gửi cho người thân. Trong thơ Vương Duy, nó gắn với cuộc sum họp thiếu một người; ở thơ Lý Bạch, nó gợi mái tóc bạc sớm. Một nhành cây nhỏ nhờ thế trở thành dấu hiệu của tình thân và ý thức về thời gian.

Bên cạnh việc lên núi, người xưa còn làm bánh Trùng Dương. Đông Kinh mộng hoa lục ghi cảnh người ở Biện Kinh thời Tống hấp bánh, trang trí bằng hạt quả và gửi tặng nhau trước ngày lễ. Âm “cao” của bánh gần âm “cao” trong lên cao, vì vậy món ăn cũng gửi gắm mong ước mọi việc tiến lên, thuận lợi. Tập tục ăn bánh làm cho lời chúc có thể đến với cả những người không đi đăng cao.

Tôn kính người già

Bài viết của tác giả Viễn Sơn trên Khán Trung Quốc còn nối ý cầu thọ của ngày lễ với truyền thống kính lão. Lễ ký, phần Nguyệt lệnh, có lời về việc chăm sóc người già khi sang thu, cấp chỗ tựa, gậy và cháo. Những ghi chép này cho thấy sự kính trọng tuổi tác từng được diễn đạt thành hành động cụ thể, bên cạnh lời chúc trong gia đình.

Từ ngọn núi trong truyền thuyết, bầu trời thu trong thơ đến mâm bánh và chén rượu của cuộc gặp bạn, Trùng Dương có nhiều lớp ý nghĩa. Điểm gặp nhau là ước mong người thân bình an, được nhớ đến và được chăm sóc khi tuổi tác đi qua. Đọc lại những câu thơ, người hôm nay có thể thấy một ngày lễ cũ vẫn chứa những tình cảm rất gần gũi.

Nguồn: Viễn Sơn, Khán Trung Quốc, “Tuế thời nghênh giai tiết, thi tửu thoại Trùng Dương” (18/10/2026). DKN biên dịch, biên tập và phân biệt truyền thuyết, tập tục với dữ kiện lịch sử.

Exit mobile version