
Một chén trà thơm nhấp từng ngụm là thú vui thanh nhã của người xưa. Qua đôi tay người con gái hái, nấu và thưởng trà, cảnh ấy càng thêm duyên. Trà vừa là một trong bảy thứ thiết yếu khi mở cửa mỗi ngày, vừa là nghệ thuật dưỡng tính; quanh trà và phụ nữ xưa có rất nhiều câu chuyện.
Trong trà có lễ
Văn hóa trà truyền thống gồm trà đạo, trà nghệ và trà lễ. Khi uống trà thịnh hành, người ta dùng trà thể hiện kính trọng và hoàn thành đại lễ. “Thất tu loại cảo” thời Minh ghi quan niệm rằng cây trà trồng bằng hạt không thể chuyển chỗ, chuyển thì không sống. Người xưa coi đặc tính không dời, nhiều hạt ấy tương thông với đức thủy chung của người vợ, nên trà thành lễ vật không thể thiếu trong cưới hỏi, kèm nhiều nghi thức tặng, dâng trà. Đây là cách giải thích biểu tượng trong cổ thư.
Bài nguồn kể công chúa Văn Thành thời Đường khi tới Tây Tạng kết thân đã đem nhiều trà làm của hồi môn, đưa văn hóa trà tới vùng đất ấy. Về sau, phụ nữ xuất giá dù giàu nghèo đều có trà trong hồi môn. Từ thời Tống, trà còn là sính lễ; tiền bên trai đưa tới được gọi trà kim, trà lễ hoặc đại trà, bên gái nhận gọi là thụ trà.
“Mộng lương lục” ghi khi hạ sính, bên trai đem vàng bạc, vải, trang sức cùng trà quả, rượu nước tới nhà gái. Ba ngày sau cưới, nhà gái lại gửi bánh trà và hoa quả tới nhà rể, hoàn thành lễ tam triều. Còn có tam trà lễ: đính hôn gọi hạ trà, kết hôn định trà, hợp phòng hợp trà. Cùng sáu lễ nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghênh, được gọi tam trà lục lễ. Theo quan niệm xưa, hoàn tất các nghi thức thì đôi vợ chồng được thần linh, tổ tiên chứng nhận, bắt đầu sống cùng nhau trọn đời.
Một ít lá trà, một chén nước trong đi suốt đính hôn, hôn lễ tới sau cưới, chứng kiến bao đại lễ. “Ăn trà” dần trở thành cách nói người con gái nhận lời đính ước. Trong “Hồng lâu mộng”, Vương Hy Phượng trêu Đại Ngọc đã uống trà nhà mình, sao còn chưa về làm dâu. Khi nấu, uống trà, liệu những cô gái xưa cũng hướng tới cuộc đời mai sau?
Bí mật bức tranh trong chén trà
Trước thời Nguyên, trà thường ở dạng bánh, khi dùng nghiền vụn rồi nấu thành nước đậm. Hai cách chủ yếu là tiễn trà thịnh thời Đường và điểm trà thịnh thời Tống. Tiễn trà cho bột vào nước sôi; điểm trà rót nước sôi nhiều lần lên bột rồi dùng chổi trà khuấy đánh, gọi là kích phất.
Trong quá trình điểm trà, mặt nước nổi bọt trắng, tạo chữ hoặc hình, từ đó phát triển trò nghệ thuật “phân trà”, còn gọi “trà bách hí”.
“Suẩn mính lục” thời Tống ghi người khéo rót nước, vận muỗng, dùng bí quyết khiến đường nước trên mặt trà tạo hình chim thú, côn trùng, cá, hoa cỏ, tinh xảo như tranh nhưng chốc lát lại tan; người đương thời gọi trà bách hí. Người giỏi phân trà như họa sĩ, lấy dụng cụ trà làm giấy bút, nước trà làm mực, vẽ sinh động muông thú, biến chén trà thành tác phẩm để ngắm.
Văn nhân Tống say mê nghệ thuật ấy. Lục Du có câu tả bên cửa sổ nắng, vui phân lớp bọt mịn. Gặp phụ nữ thông thạo trà nghệ, họ càng làm thơ ngợi khen: đôi ngón tay như hành non dùng đũa vàng đánh trà, bọt như sữa tuyết trong chén sứ hoa; ánh mắt mùa thu lưu luyến rượu, ngón tay như măng xuân quen phân trà. “Hành xuân”, “măng xuân” chỉ ngón tay thon trắng của người con gái.
“Dịch nhân truyện” thời Thanh chép chuyện Triệu Tổng Liên thời Tống, người giỏi phân trà. Hướng Tử Nhân làm từ tặng, trong lời tựa khen nàng giỏi cầm, kỳ, thư và phân trà, đặt trà ngang những tài nghệ của văn nhân. Lời từ tả nàng hơi say, khéo phân mây trong chén, mái tóc nghiêng bên bàn cờ.
Bài “Phong lưu tử” của Triệu Ngạn Đoan cũng dùng lời đẹp tả cô gái phân trà giữa tiệc đêm nhà giàu: vừa dừng múa đã mỉm cười tới bên lửa, làm ấm chén, mở trà, ngón tay nhẹ đưa, mây nổi, rồng bay hiện trong chén. Tài nghệ khiến người ngắm phải xiêu lòng.
Đố sách và hương trà đổ
Người xưa yêu trà, tự hào khi có trà tốt, nên từ thời Đường đã có thi màu nước, bọt mặt và vị, gọi đấu trà, đạt đỉnh thời Tống. “Trà lục” của Thái Tương ghi nước trắng là quý, sau đó mới tới trắng xanh, trắng xám, trắng vàng; mặt bọt trắng tươi, không có vết nước bám chén được coi là tốt; vị cần ngọt, trơn dịu.
Đó là thi phẩm chất trà. Văn nhân tài nữ còn có hình thức thi văn: trà lệnh như tửu lệnh. Bài nguồn coi Lý Thanh Chiếu là người sớm khởi xướng. Bà cùng chồng Triệu Minh Thành chung chí hướng, từng giúp ông viết “Kim thạch lục” tại Thanh Châu. Trong lúc học và viết, hai người nghĩ ra trò kiểm tra hiểu biết điển cố.
Sau ăn, họ ngồi nấu trà, lần lượt hỏi một sự việc nằm ở sách nào, quyển, trang, dòng nào; ai đoán đúng được uống trước. Lý Thanh Chiếu nhớ giỏi nên thường thắng. Đắc ý nâng chén cười, bà hay làm trà đổ lên áo, cuối cùng lại không được uống.
Bà ghi trong “Kim thạch lục hậu tự” rằng sau mỗi bữa, hai người nấu trà ở Quy Lai đường, nhìn chồng sách sử, nêu câu hỏi để phân thắng thua; vừa trúng đã nâng chén cười tới nỗi trà đổ vào lòng, phải đứng dậy mà chưa uống.
Khoảng năm trăm năm sau, Nạp Lan Tính Đức thời Thanh thương nhớ vợ mất, cảm chuyện vợ chồng Lý Thanh Chiếu, viết câu nổi tiếng về đố sách, hương trà đổ, những điều khi ấy tưởng bình thường. Từ đó, “đố sách đổ trà” thành điển cố về thú thanh nhã và tình vợ chồng.
Trà lệnh tiếp tục lưu hành trong giới văn nhân. “Mai Khê văn tập” của Vương Thập Bằng kể mỗi lần cùng bạn uống trà, họ chọn một vật làm đề, mỗi người nêu điển cố, không nói được thì chịu phạt; các chuyện đều gắn với trà. Người không đáp được chỉ ngửi hương, nhìn người khác uống.
Sau một chén trà là bao con người, sự việc thanh nhã. Phụ nữ xưa tìm thấy trong ấy hứng thú của cuộc đời và nghệ thuật, đồng thời để lại cho trà một hương thơm riêng.
Ghi chú biên tập: Vương Thập Bằng là tác gia Nam Tống; bài nguồn đặt đoạn nói về “Mai Khê văn tập” sau mốc nhà Thanh, dễ gây hiểu nhầm về thời đại của ông.
Tác giả: Lan Âm (蘭音). Nguồn: The Epoch Times.