
Tác giả: Triệu Nhược Lan, SecretChina, 28/10/2026. Bản dịch bài giới thiệu nghệ thuật; ghi chú riêng về việc quy tác giả cho bức tranh ở cuối bài.
Tám họa gia lớn thời Ngũ Đại – Bắc Tống, thường được nhắc gọn là Kinh, Quan, Đổng, Cự, Lý, Quách, Phạm, Mễ, mở ra thời kỳ hoàng kim đầu tiên của sơn thủy cổ điển Trung Hoa. Trong đó, Lý Thành, Phạm Khoan và Quan Đồng được gọi là ba nhà lớn đứng vững như thế chân vạc, có ảnh hưởng sâu sắc tới Quách Hy và những họa gia đời sau. “Tình loan tiêu tự đồ”, thường được quy cho Lý Thành, có vị trí quan trọng trong lịch sử hội họa Trung Quốc.
Gia cảnh sa sút, gửi lòng vào thơ rượu và thư họa
Lý Thành (919–967), tự Hàm Hy, người Thanh Châu, là họa gia sống từ cuối Đường, qua Ngũ Đại tới đầu Bắc Tống. Ông thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường, gia thế hiển hách. Ông nội Lý Đỉnh từng làm thứ sử Tô Châu, cha cũng là nho sĩ có danh vọng. Thời Ngũ Đại chiến tranh liên miên, dân sinh điêu tàn, ông nội đưa cả gia đình tới Doanh Khâu ở Sơn Đông tránh loạn. Bởi vậy Lý Thành còn được gọi là Lý Doanh Khâu.
Ông học rộng, tính cao nhã, nhiều tài nghệ, thông thạo cầm, kỳ, thơ, văn, ca từ và hội họa. Nhưng sống giữa loạn lạc, gia cảnh sa sút, đường công danh không thuận, ông buồn vì chí không đạt, rồi gửi lòng vào thơ, rượu, thư họa. Theo bài nguồn, cuối cùng ông mất vì say rượu tại một quán trọ ở Trần Châu.
Nét bút giản luyện, quý mực như vàng
Lý Thành giỏi vẽ sơn thủy. Thuở đầu học theo Kinh Hạo và Quan Đồng, sau quá trình nghiên cứu, nỗ lực, ông phát triển phong cách riêng mang tính khai mở: rừng khói nhìn xa trên mặt phẳng và rừng lạnh, cây khô.
Do hoàn cảnh sống thay đổi, ông thường phác họa cảnh đồng bằng Tề Lỗ ở Sơn Đông, chuyển từ cách chọn núi cao chót vót của Kinh Hạo, Quan Đồng sang bố cục bình viễn rộng thoáng. Nét bút giản lược, sắc sảo; ông giỏi dùng mực nhạt, chỉ nhấn mực đậm ở chỗ then chốt để tạo hiệu quả nổi bật, nên được khen “quý mực như vàng”. Ông đặc biệt thích cảnh rừng lạnh và tuyết tiêu sơ của phương Bắc, vì vậy còn có tên Lý Hàn Lâm.
Mễ Phất, nhà thư họa lớn đời Tống, viết trong Họa sử: “Mực nhạt của Lý Thành như ở trong sương mộng, đá như mây chuyển, nhiều khéo léo mà ít chân ý.” Người đời sau gọi cách vẽ núi đá như mây chuyển ấy là “quyển vân thuân”.
Phong cách Lý Thành trở thành mẫu mực đầu Bắc Tống, đến mức “châu châu huyện huyện, người người đều vẽ”. Bài nguồn liệt kê những tác phẩm tiêu biểu như Tình loan tiêu tự đồ, Hàn lâm bình dã đồ, Bàn xa đồ, Ngư lạc đồ, Hàn nha đồ, và Độc bi khoa thạch đồ hợp tác với Vương Hiểu.
Nhiều họa gia tiếp nối ông, trong đó có Hứa Đạo Ninh, Lý Tông Thành, Địch Viện Thâm, Quách Hy, Vương Sân và Yên Văn Quý. Quách Hy có thành tựu cao nhất. Hậu thế gọi chung Lý Thành và Quách Hy là phái Lý – Quách, một trong những dòng sơn thủy có ảnh hưởng lâu dài nhất.
Khí tượng sơn thủy phương Bắc trong Tình loan tiêu tự đồ
Bức tranh được vẽ màu trên lụa, bố cục dọc, mô tả thung lũng mùa đông. Núi đá hùng vĩ, rừng lạnh tiêu sơ, chùa, tháp và lầu gác hợp thành khí tượng bao quát của lối sơn thủy phương Bắc mang tính “bia đá khổng lồ”. Bài nguồn cho biết tranh được ghi trong Tuyên Hòa họa phổ và hiện ở Bảo tàng Nghệ thuật Nelson-Atkins tại Mỹ.
Nửa trên là các ngọn núi cao, đỉnh chính sừng sững, thác đổ thẳng xuống. Điểm thu hút thị giác ở trung cảnh là ngôi chùa dựng bên núi, cấu trúc chặt chẽ, tinh tế, cùng tháp cổ, lầu gác và rừng cây xung quanh. Tiền cảnh có nhà tranh ven nước, cầu gỗ, khách bộ hành và cây cao. Những cành cây được viền bằng mực khô, giống “càng cua”, là đặc điểm bài nguồn gắn với Lý Thành.
Màu mực của Tình loan tiêu tự đồ dày đậm, nét bút vững chắc, thể hiện biến đổi thời tiết khi sương khói tụ lại và vẻ trong sáng, tráng lệ của núi sông sau mưa. Quách Nhược Hư đời Bắc Tống nhận xét trong Đồ họa kiến văn chí: “Khí tượng tiêu sơ, rừng khói thanh khoáng, đầu bút sắc thoát, phép mực tinh vi, ấy là lối của Doanh Khâu.”
Ghi chú biên tập
Bài nguồn gọi bức tranh là tác phẩm Lý Thành. Bảo tàng Nelson-Atkins, nơi lưu giữ tranh, ghi “Attributed to Li Cheng”, nghĩa là được quy cho Lý Thành, và định niên đại Bắc Tống. Vì vậy, tên họa gia gắn với bức tranh ở đây được hiểu theo sự quy tác giả ấy, không phải khẳng định chắc chắn do chính ông vẽ.
Nguồn: SecretChina, Triệu Nhược Lan. Đối chiếu quy tác giả: Bảo tàng Nelson-Atkins, Chinese Landscapes Ancient and Modern.