
Nhà soạn nhạc Hungary Franz Liszt (1811–1886) là nghệ sĩ piano bậc thầy của trào lưu Lãng mạn. Người sáng tác, biểu diễn và giảng dạy sung sức này viết khoảng 700 tác phẩm trong đời. Sinh trong gia đình âm nhạc, thần đồng Liszt đã biểu diễn trước những nhạc sĩ nổi tiếng và hoàng gia từ năm chín tuổi.
Việc thường xuyên di chuyển, biểu diễn khi còn trẻ khiến ông suy kiệt thần kinh và nghĩ tới một con đường tinh thần khác. Liszt nói với cha, Adam Liszt, mình muốn trở thành linh mục.
Để cải thiện sức khỏe con, Adam đưa ông tới vùng biển Boulogne, Pháp, nhưng tại đây người cha qua đời vì sốt thương hàn. Mất cha khi còn ở tuổi thiếu niên, Liszt rời xa âm nhạc vài năm, dồn trí tò mò vào nghiên cứu tôn giáo và nghệ thuật.
Những dạ khúc giàu chất thơ
Đầu tuổi hai mươi, Liszt trở lại sáng tác, biểu diễn. Ông là nghệ sĩ điêu luyện, có thể một mình trình diễn trọn chương trình độc tấu. Bằng hòa âm bán cung, ông đưa piano tới những hướng sáng tạo mới.
Ông cũng phát triển thể loại gọi là “thơ giao hưởng”: một chương nhạc cô đọng sự phức tạp, kịch tính của tác phẩm văn học, kết hợp các yếu tố sáng tác của một bản giao hưởng bốn chương truyền thống.
Cái chết của người bạn, nhà soạn nhạc Frédéric Chopin, gợi cảm hứng để Liszt có thời gian viết những thể loại Chopin từng làm nên tên tuổi, như dạ khúc.
“Liebestraum”, nghĩa là “Những giấc mộng tình yêu”, gồm ba dạ khúc thể hiện những dạng tình yêu khác nhau qua ba bài thơ liên quan. Giống ca khúc nghệ thuật Đức thời Lãng mạn, chúng có thể kết hợp lời thơ hoặc được diễn tấu độc tấu piano.
Ba phần của “Liebestraum”
Dạ khúc thứ nhất dựa trên “Hohe Liebe”, tạm dịch “Tình yêu cao cả”, của Johann Ludwig Uhland. Bài thơ nói về sự thăng hoa tinh thần, khi con người vui lòng từ bỏ niềm vui trần thế để hướng tới cõi bên kia rực sáng.
Trong ba tác phẩm, đây là bản yên bình và tiết chế nhất. Những nốt trầm tư được ngân dài, các lớp hợp âm rải và nốt nhạc đi lên nhanh gợi bầu trời đã mở ra phía trên, theo cách cảm nhận của tác giả.
“Liebestraum số 2” dựa trên bài “Seliger Tod”, tạm dịch “Cái chết diễm phúc”, cũng của Uhland. Liszt chủ ý tạo tương phản mạnh với bản đầu. Khúc nhạc nói về trải nghiệm tình yêu con người nảy sinh từ sự gần gũi thể xác thoáng qua.
Âm nhạc bùng lên kịch tính, cuối cùng chấm dứt đột ngột, hơi u buồn. Uhland gợi rằng thứ tình yêu ấy có thể khiến người ta thức tỉnh hoặc thoáng thấy thiên đường, nhưng cũng như mọi trải nghiệm trong thân xác, nó không kéo dài mãi.
Bài thơ “O Lieb, so Lang du Lieben Kannst” của Ferdinand Freiligrath, tạm dịch “Hãy yêu khi còn có thể”, là nền tảng cho dạ khúc cuối cùng, “Liebestraum số 3”.
Khúc cuối nói tới tình yêu vượt qua cái chết trong bài thơ trước. Nó nhắc ta vừa ngọt ngào vừa xót xa rằng hãy yêu những người thân quý, vì sẽ tới lúc ta không còn họ bên mình.
Âm nhạc dâng tới cao trào mãnh liệt, rồi kết bằng cảm giác yên bình gợi lại dạ khúc đầu. Theo tác giả Jeff Perkin, tác phẩm dường như mang thông điệp hy vọng rằng qua lòng biết ơn và sự vun bồi, tình yêu vẫn luôn hiện hữu. Dù người thân ra đi, con người vẫn có thể tìm tình yêu cao cả mà ông gắn với cõi thiêng.
Tác giả: Jeff Perkin. Nguồn: The Epoch Times.