Mỗi khi nhắc đến bậc quân vương vĩ đại của đất nước Trung Hoa, người ta thường nghĩ ngay đến Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế thống nhất Trung Hoa. Khi nói đến thời kỳ huy hoàng nhất lịch sử Trung Quốc, mọi người sẽ nghĩ ngay đến triều đại nhà Đường thịnh thế, “Trinh quán chi trì” của Đường Thái Tông. 

Tuy nhiên, có học giả cho rằng, Tùy Văn Đế Dương Kiên của nhà Tùy là một vị hoàng đế vĩ đại như Tần Thủy Hoàng, lãnh đạo đất nước phát triển kinh tế thịnh vượng không kém thời điểm triều đại nhà Đường thịnh thế. Điều gì giúp kinh tế nhà Tùy phát triển như vậy? Điều này không thể không kể đến tài năng của vị hoàng đế khai quốc nhà Tùy là Dương Kiên. Là một trong hàng trăm vị hoàng đế nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, ông có hai đặc điểm nổi bật đó là tín Phật và… sợ vợ. 

Trời sinh Tùy Văn Đế khác người bình thường 

Tùy Văn Đế tên là Dương Kiên, người Hoa Âm, quận Hoằng Nông. Cha của ông là Dương Trung, người trợ giúp Vũ Văn Giác thiết lập chế độ Bắc Chu và làm tới chức vị Trụ quốc, phong là Tùy Quốc Công.  Dương Kiên được sinh ra ở ngôi chùa Bàn Nhược tại Phùng Dực. Nghe nói, khi ông chào đời, ánh sáng đỏ chiếu vào phòng sinh, khí tím xuất hiện đầy sân đến mức nhuộm tím quần áo, điều này khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Mẹ của ông là Lã Thị, một hôm bà nằm mộng thấy Thương Long trong bụng bà sinh ra. Theo ghi chép lịch sử, trời sinh Dương Kiên có tướng mạo khác thường, bàn tay có chữ Vương. 

Sau khi ông chào đời không lâu thì một ni cô người Hà Đông tên là Trí Tiên đã đặt cho ông một biệt danh là Na La Duyên (nghĩa tiếng Phạn là ý chí như kim cương bất hoại). Bà nói với mẹ của Dương Kiên: “Đứa trẻ này đến từ nơi không tầm thường, các ngươi sống tục gia uế tạp, để ta nuôi dưỡng”. Ni cô còn nói: “Các ngươi không phải lo lắng cho đứa trẻ, bé đã có Trời Phật phù hộ”. Cha mẹ Dương Kiên đương nhiên là không muốn để con trai cho một người xa lạ nuôi dưỡng. Tuy nhiên, điều lạ là mỗi khi nhìn thấy Trí Tiên thì Dương Kiên liền không khóc, mà ni cô vừa rời đi thì ông lại khóc không ngưng, khiến cả nhà không thể hiểu nổi. Cuối cùng họ đành phải để Dương Kiên lại cho Trí Tiên nuôi dưỡng. 

Tùy Văn Đế Dương Kiên (Ảnh: Wikipedia).

Một hôm, Lã Thị vô cùng nhớ con, thừa lúc Trí Tiên đi vắng liền lẻn vào phòng thăm con. Bà vừa bước vào đã vội chạy đến bên nôi ôm con, không nhìn còn đỡ, vừa nhìn con, bà liền thấy đầu con mọc sừng, thân mình có vảy rồng, bà kinh hoàng sợ hãi đánh rơi con xuống đất khiến đứa trẻ bật khóc. Trí Tiên nghe thấy vội chạy tới vội ôm đứa trẻ từ dưới đất lên rồi nói với Lã Thị: “Ngươi nhìn xem, làm con của ta sợ rồi. Cái này khiến con ta làm hoàng đế muộn mất vài năm rồi”. Từ đó về sau, cha mẹ của Dương Kiên không ai dám tới thăm nữa. 

Vì vậy, từ nhỏ Dương Kiên lớn lên cùng ni cô Trí Tiên, ăn chay, thờ Phật và trở thành đệ tử xuất gia. Năm Dương Kiên 7 tuổi, một hôm ni cô Trí Tiên nói với ông: “Con là một đứa trẻ đại quý, sinh ra ở Đông Quốc, ngăn chặn sự hủy diệt của Phật pháp, do vậy mới hưng thịnh”. Mãi đến năm Dương Kiên 13 tuổi, ni cô Trí Tiên mới rời đi. Sau khi lớn lên, ông đã kế thừa tước vị quốc công của cha, sau đó nhận “thiện nhượng” từ Hoàng đế Bắc Chu, chính thức nắm quyền điều hành đất nước, đổi tên nước là “Tùy”, đặt hiệu Khai Hoàng và đóng đô ở Trường An. 

Dương Kiên có mối nhân duyên rất lớn với Phật giáo. Ông thường nói bản thân là nhà sư trong kiếp trước, là đệ tử của Phật Thích Ca tên là Kim Cương. Sau khi lên ngôi hoàng đế, ông nói: “Phật pháp do ta hưng thịnh”. 

Phật pháp do ta hưng thịnh”

Trong 38 năm ngắn ngủi, triều đại nhà Tùy đã xây dựng hơn 5000 chùa tháp, đúc hàng vạn tượng Phật, chưa tính đến số chùa tháp được trùng tu, tăng ni xuất gia hơn 500 ngàn người. Tuỳ Văn Đế là vị hoàng đế đã lãnh cả triều văn võ bá quan tu tâm hướng Phật và hoằng dương Phật pháp cho dân chúng. 

Tùy Văn Đế còn được gọi là quốc vương Bồ Tát. Hoàng hậu Độc Cô khi thụ giới gọi là Diệu Thiện Bồ Tát. Tất cả các đại thần văn võ đều có Phật hiệu của riêng mình. Ngày ngày, trong hoàng cung đều có khói hương và tiếng tụng kinh. Tiếng chuông mõ liên tục không dứt, cả hoàng cung không khác gì ngôi chùa. Mỗi khi Dương Kiên xuất hành, đội quân ngự lâm mở đường thể hiện rõ uy nghiêm của Hoàng đế. Tùy Văn Đế giống như hòa thượng xuất gia, có thể mở đường giảng kinh bái Phật. 

Hoàng hậu Độc Cô sùng kính Phật pháp cả đời. Lúc bà qua đời, cung Nhân Thọ của nhà Tùy mọc cây Kim Ngân Vũ, nửa đêm cung điện phát ra ánh quang, cung Vĩnh Yên nghe được rất nhiều âm thanh kỳ diệu, hơn 300 tiếng chuông phát ra từ vườn hoa trong cung vào lúc nửa đêm, làm chấn động hư không. 

Có hơn 94 hang động được trùng tu và xây dựng vào đời nhà Tùy, lớn hơn số lượng hang động xây dựng trước đó trong suốt 200 năm. Tượng Phật được điêu khắc từ đơn giản chuyển sang phong cách tinh mỹ nhưng rất chân thật, dù là bức bích họa hay pho tượng, đều lộng lẫy, sắc thái trang nghiêm tươi sáng. Dường như những người thợ tạc tượng đã dùng toàn tâm chí để khắc họa lại những cảnh tượng thù thắng mỹ hảo của thế giới thiên quốc. 

Hoàng đế sợ vợ

Tùy Văn Đế và hoàng hậu Độc Cô yêu thương nhau vô cùng sâu sắc. Hoàng đế không lập thiếp, sáu cung lục viện đều bỏ trống. Tuy nhiên, vào những năm cuối đời, ông cũng không khắc chế được bản tính nhục dục của con người sau khi nhìn thấy cháu gái của Uất Trì Huýnh. Năm đó, sau khi Bắc Chu Tuyên Đế chết, Dương Kiên giả mạo chỉ dụ của vua, lập tức điều động 3 quân dấy binh. Thế lực lớn nhất là Uất Trì Huýnh suýt khiến đại nghiệp của ông thất bại.

Uất Trì Huýnh thua trận và cháu gái ông đã trở thành cung nữ, khi lớn cô bé trở thành thiếu nữ vô cùng xinh đẹp. Nhìn thiếu nữ này, trong lòng Dương Kiên tràn đầy tham vọng của một kẻ muốn chinh phục và yêu thích người đẹp. Điều này đã tạo ra cú đả kích lớn tới hoàng hậu Độc Cô, cả đời tự tin kiêu ngạo về dung nhan của mình. Trong lúc bi phẫn, bà nổi cơn thịnh nộ đã giết chết cung nữ họ Uất Trì. Tùy Văn Đế trong cơn tức giận đã một mình cưỡi ngựa ra khỏi cung, đi vào sơn cốc cách cung điện hơn 20 dặm. Cuối cùng, nhờ Phó xạ Cao Quýnh và Dương Tố khuyên giải, ông mới thở dài một tiếng: “Ta mệnh thiên tử, không được tự do!”. Ông lại quay lại hoàng cung, hoàng hậu Độc Cô cũng chủ động tạ tội, thế là hai vợ chồng lại hòa hảo như lúc đầu. Câu chuyện này khiến cho đời sau nghĩ rằng Tùy Văn Đế là một vị hoàng đế sợ vợ. 

Những người tin vào Phật giáo đều biết rằng sắc dục là điều cấm kỵ nhất của người tu hành. Có lẽ sau khi phi ngựa ra ngoài cung một hồi, Dương Kiên thấy rằng bản thân làm vậy cũng có điều không đúng. Mọi người nói rằng đây là biểu hiện của việc Dương Kiên sợ vợ. Nhưng, đây rất có thể là do vợ chồng Tùy Văn Đế có cùng chuẩn mực đạo đức nên mới có mục tiêu chung.

Cơ nghiệp Đại Tùy

Bởi vì Tùy Văn Đế cùng văn võ bá quan lấy việc tu dưỡng đạo đức ở mức cao nên mới khiến xã hội thời kỳ nhà Tùy hoạt động yên ổn, kinh tế phát triển nhanh chóng. 

Mở rộng lãnh thổ biên cương

Tùy Văn Đế Dương Kiên đã bình định Nam triều của Trần Thúc Bảo, khai sáng vương triều Đại Tùy, thành lập địa khu hành chính và áp dụng có hiệu quả biện pháp quản hạt. Quân đội nhà Tùy đã tiêu diệt và làm suy yếu sự ngăn trở của các dị tộc hùng mạnh như quân Đột Quyết, dân tộc Thổ Dục Hồn, Khiết Đan, Cao Ly… Cho đến năm 630, nhà Đường cũng không thể khôi phục hoàn toàn lãnh thổ của nhà Tùy. Hơn nữa, việc bang giao hòa hảo với các bộ tộc vùng biên giới của nhà Đường là nhờ vào 15 vị công chúa cùng nhiều vàng bạc châu báu. Còn Tùy Văn Đế là dựa vào sức mạnh của quân đội mà ổn định. 

Nhân khẩu thịnh vượng

Năm Tùy Văn Đế mới đăng cơ (năm 581), cả nước có hơn 3,99 triệu hộ, trong vòng 5 năm ông làm hoàng đế cả nước đã có 8,9 triệu hộ, hơn 46 triệu nhân khẩu. Trong vòng 30 năm ngắn ngủi, số nhân khẩu còn tăng gấp đôi. Mãi đến năm 740, lúc Đường Huyền Tông trị vì mới đạt được con số này. Vào thời Đường Cao Tông (năm 652) cả nước mới có 3,8 triệu hộ. 

Quốc thái dân an

Sau khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc, từ nam đến bắc, số địa khu phát triển kinh tế ở mức kém rất ít. Nhà Tùy vô cùng giàu có. Điều này được ghi trong “Văn hiến thông khảo”: “Cổ kim xưng quốc kế chi phú giả mạc như Tùy” (tạm dịch: Từ xưa tới nay, tính toán quốc gia, người giàu có không thời nào bằng nhà Tùy). Nói về quốc khố thì không triều đại nào bằng nhà Tùy. Trong “Trinh Quán chính yếu” của triều đại nhà Đường có ghi: “Tài phú thiên hạ để dành có thể đủ dùng trong 50 đến 60 năm”, nghĩa là quốc gia dù không cần thu thêm thuế má nhưng tài phú nhà Tùy lưu lại có thể đủ dùng tới 50 đến 60 năm sau. 

Tùy Văn Đế lên ngôi được 9 năm (năm 589 sau Công nguyên), cả nước có hơn 19,4 triệu ha đất canh tác. Năm 609, diện tích đất canh tác lên đến 55,85 triệu ha. Vào thời Đường Huyền Tông, diện tích đất nông nghiệp có khoảng hơn 14 triệu ha. Như vậy, con số này đã cho thấy thấy mức độ chênh lệch về kinh tế giữa nhà Đường và nhà Tùy lớn đến thế nào.

Công cuộc trị vì quốc gia sáng suốt của Tuỳ Văn Đế đã đặt một nền tảng vững chắc cho nhà Đường khai sáng ra thời đại thịnh thế đỉnh cao trong lịch sử Trung Quốc. Dù sau khi Tuỳ Văn Đế qua đời, Tuỳ Dạng Đế Dương Quảng xa hoa, truỵ lạc, quốc lực bị bào mòn bởi dịch bệnh, chiến tranh song Trung Hoa vẫn giữ được nền tảng cường thịnh. Để rồi sau đó Đường Cao Tổ Lý Uyên lên ngôi gần như đã thừa kế lại tất cả những gì tinh tuý nhất của nhà Tuỳ. Đến đời Đường Thái Tông Lý Thế Dân, Trung Hoa tiếp tục được đưa lên một tầm mức mới với “Trinh Quán chi trị”, không thể nói rằng “Trinh Quán chi trị” không có nền tảng từ thời đại “Khai Hoàng chi trị” của Tuỳ Văn Đế.

Theo Sound Of Hope
San San biên dịch