Ngày 26/5 là ngày trăng tròn lớn nhất năm 2021, mặt trăng sẽ ở gần trái đất nhất. Sẽ có một “siêu trăng” trên bầu trời, lớn hơn bình thường tới 14% và sáng hơn tới 30%; đồng thời nó cũng sẽ đi kèm với một “Trăng máu” (huyết nguyệt), trở thành kỳ quan thiên văn “Siêu trăng máu”.

“Trăng máu” là một kỳ quan thiên văn bậc nhất trong khoảnh khắc nguyệt thực toàn phần. Khi nguyệt thực toàn phần xảy ra vào ngày trăng tròn, lúc này Mặt trăng bị bóng Trái đất che khuất hoàn toàn, ánh sáng đỏ trong quang phổ ánh sáng mặt trời có thể xuyên qua bầu khí quyển của Trái đất, và được khúc xạ lên mặt trăng, làm cho mặt trăng tròn trở nên có màu đỏ sẫm; đó chính là hiện tượng “Trăng máu”. Vào ngày 26/5/2021 sẽ có nguyệt thực toàn phần; Mặt trăng sẽ đi qua vùng cận kề trái đất nhất, nên “Trăng máu” lần này sẽ lớn hơn bình thường, và trở thành “siêu trăng máu”.

Tại Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan đều sẽ được chiêm ngưỡng hiện tượng siêu trăng này. Ngoài ra, “siêu trăng máu” có thể được nhìn thấy ở các khu vực xung quanh Thái Bình Dương, và toàn bộ quá trình của nguyệt thực toàn phần có thể được nhìn thấy ở New Zealand.

“Trăng máu” có phải là một hiện tượng thuần túy tự nhiên?

Văn hóa Trung Hoa từ sớm đã nói về “Trăng máu”, là một loại “nguyệt biến” (biến hóa của mặt trăng) trong các dị tượng ​​thiên văn. Nó không được gọi là “huyết nguyệt” (Mặt trăng máu), nhưng thường được mô tả là “nguyệt xích” (Mặt trăng đỏ), xích khí phúc nguyệt (khí đỏ bao trùm lấy mặt trăng), hoặc trăng có sắc máu, để hình dung.

Trong sử thư “Thiên văn chí” của các triều đại đều có quan sát về hiện tượng của “nguyệt biến”, và cũng có nhiều ghi chép về “trăng máu”. Ngoài ra, còn có những tác phẩm “Nguyệt Chiêm” (xem bói thông qua Mặt trăng) chuyên biệt, ví như “Ất Tỵ Chiêm” của Lý Thuần Phong thời nhà Đường và “Chu Dịch Yêu Chiêm” của Kinh Phòng – bậc thầy Dịch học thời Tây Hán, đều có ghi chép về “trăng máu”.

“Chu Dịch Yêu Chiêm” coi trăng máu là điềm báo tai họa, đặc biệt là nạn binh đao và hạn hán: “Mặt trăng biến thành màu đỏ, ấy là nạn binh đao và hạn hán”, “khí đỏ bao trùm mặt trăng như màu đỏ của máu, sẽ có hạn hán lớn, người dân chết đói phơi thây nghìn dặm”.

Trăng máu được xem là điềm báo tai họa, đặc biệt là nạn binh đao và hạn hán (Ảnh: Shutterstock)

Tập thứ hai của “Ất Tỵ Chiêm” của Lý Thuần Phong là “Nguyệt Chiêm”, xem hình dạng của Mặt trăng để xem bói sự tình của quốc gia và sự tình của thiên hạ. Ông nói: “Nếu Mặt trăng biến sắc, sẽ có tai ương”, “Mặt trăng đổi sang màu đỏ, đây là nạn chiến tranh và binh đao”, chính là nói khi Mặt trăng đổi sang màu đỏ sẽ có họa binh đao tranh đoạt quyền lực. “Ất Tỵ Chiêm” cũng nói rằng “khi Mặt trăng nuốt mất sao Sâm (một chòm sao trong Nhị Thập bát tú), lại xuất hiện sắc đỏ, khi đó địa giới nghìn dặm cũng nhuốm đỏ, trong nước sẽ xuất hiện nạn đói lớn, nghiêm trọng đến mức người dân có thể ăn thịt lẫn nhau. Cách nhìn này hoàn toàn nhất trí với quyển “Chu Dịch Yêu Chiêm” của Kinh Phòng.

Sử sách các triều đại Trung Quốc cũng coi trăng máu (trăng đỏ) là điềm báo của tai họa. Ví như:

“Ngũ hành lục – Hậu Hán Thư” có viết: “Thiên sự bất cẩn, tắc nhật nguyệt xích” – chỉ ra rằng khi con người thế gian bất kính Thần linh, hành sự trái với đạo Trời, nhật nguyệt sẽ biến thành đỏ.

Cuốn “Nhất bách ngũ – Ngụy Thư” có viết: “Thiên nhật nguyệt tinh biến, biên niên sử tai họa các triều đại từ nhà Ngụy đến Nam triều” – chỉ ra rằng, trong lịch sử thời Nam Bắc triều, sự khác thường của mặt trời, mặt trăng và các vì sao có liên hệ tới các tai họa và là lời quở trách của Thiên Thượng.

Cuốn “Thiên văn hạ – Tùy Thư” viết: “Thiên khí địa hàng, địa khí thượng thăng, … nhược ư dạ tắc nguyệt xích, tương hạn thả phong” – chỉ ra rằng: Âm Dương không cân bằng, Âm khí phạm Dương khí, mà biểu hiện là trăng đỏ vào ban đêm, như thế ắt sẽ có hạn hán và nạn đói.

Cuốn “Thiên văn ngũ – Tống Thư” viết: “Nguyệt biến sắc, vị ương; thanh; cơ; xích; binh; hạn…”, chỉ ra rằng: khi Mặt trăng đổi màu sẽ có tai ương, khi đổi sang màu đỏ, đó là điềm báo khởi binh chiến tranh, hơn nữa còn có nạn hạn hán.

Câu hỏi đặt ra là: Những dấu hiệu trăng máu (trăng đỏ) được ghi trong sử sách phải chăng đều là “mê tín”?

Lịch sử Trung Quốc luôn nhấn mạnh đến nguyên lý đối ứng giữa Trời và Người, vì vậy trong sử sách đều có “Thiên văn chí” –  những sách chuyên ghi chép về thiên văn (chỉ có cuốn “Liêu sử” là không có ghi chép về thiên văn) để quan sát và ghi chép các hiện tượng thiên văn và dị tượng để Thiên tử (hoàng đế) dựa vào đó mà thực thi các chính sách. Nhìn từ nội dung, “Thiên văn chí” trong sách sử của các triều đại Trung Hoa là một nền tảng quan trắc thiên văn khổng lồ đi trước thế giới hàng nghìn năm.

Trung Quốc ngay từ thời thượng cổ đã có “Chu bễ toán kinh”, là cuốn sách chuyên về số học thiên văn. Sử quan quan trắc sự vận hành của thiên tượng và sự biến đổi của mặt trời, mặt trăng và các vì sao đối ứng với sự biến hóa tại nhân gian, dựa theo đó mà đúc kết ra những nguyên tắc thực thi của chính quyền, và có thể dùng để suy đoán sự phát triển của lịch sử. Các cuốn “Thiên văn chí” này được truyền từ đời này sang đời khác, từ đó chúng ta có thể thấy được quy luật vận động tuần hoàn của các hiện tượng thiên văn, và những dấu hiệu cảnh báo của dị tượng thiên văn mang lại, đã lần lượt được chứng thực.

Ví dụ, cuốn “Thiên Văn Thượng – Nam Tề thư” có ghi chép lại trăng máu và binh biến: “Tháng 4 năm Quý Hợi, năm đầu niên hiệu Vĩnh Thái (498 SCN), xuất hiện nguyệt thực, sắc đỏ như máu. Ba ngày sau Đại Tư Mã vương Kính Tắc dấy binh”. Năm đầu Vĩnh Thái là năm cuối cùng vua Minh Đế của triều Nam Tề tại vị. Mặt trăng máu xuất hiện vào tháng 4 năm này, chỉ ba ngày sau Đại Tư Mã Vương dấy binh tạo phản, năm tháng sau, Tề Minh Đế băng hà.

Trong sách này còn ghi chép: “Tháng 8 năm Kỷ Mùi, năm đầu niên hiệu Vĩnh Nguyên, xuất hiện nguyệt thực toàn phần, đều là màu đỏ. Đến đêm, Thủy An Vương Diêu Quang bị giết”, nghĩa là, tháng 8 năm đầu niên hiệu Vĩnh Nguyên xuất hiện trăng máu, Thủy An Vương Tiêu Diêu Quang bị phục binh giết chết; Hai năm sau, Đông Hôn Hầu (vị vua thứ sáu của triều Nam Tề trong lịch sử Trung Quốc) bị một cử binh giết chết.

Hãy nói về một ví dụ hiện đại. “Trăng máu” xuất hiện vào năm 1949. Ở Trung Quốc đã phát sinh đại biến – Triều đại đỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã thành công chiếm đoạt chính quyền, tắm máu mảnh đất Thần Châu cho đến tận hôm nay .

Đối mặt với tai ương “Trăng máu”, văn hóa truyền thống dạy người dân cách tránh nạn thế nào?

Văn hóa Trung Hoa giảng “Thiên Nhân hợp nhất”, điều này đặc biệt minh hiển trong các hiện tượng thiên văn. Lưu Hướng – Kinh học gia thời Tây Hán nhìn nhận rằng: Nhật thực, nguyệt thực và các vì sao đi ngược chiều, đều không phải là tình hình của sự thái bình. Từ khi nhà Chu suy tàn cho đến nay, phải trái nơi thế gian càng thêm rối rắm, tiêu chuẩn đạo đức ngày càng giáng hạ, hiện tượng thiên văn cũng theo đó mà phát sinh hiện tượng biến dị (xem “Sử ký tam gia chú”).

Một người phải làm gì nếu gặp dị tượng thiên tượng như “Trăng máu”? Thái Sử Công trong “Sử Ký” đã lưu lại một lời khuyên trí huệ cho thế nhân: “Thái thượng tu đức, kỳ thứ tu chánh, kỳ thứ tu cứu, kỳ thứ tu nhương, chánh hạ vô chi”; chính là nói để tránh họa nạn, thì tu dưỡng đạo đức là biện pháp tốt nhất. Còn như việc tìm kiếm các biện pháp bổ cứu hoặc trừ tà để cầu được bình an đều chỉ như ngôi nhà xây trên cát.

“Thiên tượng minh tỏ, xưa nay đều như vậy”, đại dịch đang hoành hành trên khắp thế giới hiện nay đều do đạo đức con người bại hoại chiêu mời đến. Con đường bình an chân chính nằm ở trong tâm mỗi con người — quay trở về với văn hóa đạo đức truyền thống, bồi dưỡng chính khí. Bạn có tin hay không? Nhất chính có thể trấn áp bách tà! 

Theo Epoch Times
Hương Thảo biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

Video: Dự ngôn bí ẩn: Con chim lông trắng báo hiệu vận mệnh Trung Quốc và Tập Cận Bình

videoinfo__video3.dkn.tv||410003a16__

Ad will display in 09 seconds