Đạo gia ‘tuyển’ đồ đệ nên họ giảng một và mười, còn từ hai đến chín phải dựa vào ‘ngộ tính’ mà lý giải. Đây chính là tính ‘rời rạc’ trong văn hoá Đạo gia. Đặc điểm này thể hiện trong nhiều tầng diện của văn hoá, bao gồm cả triết học, thi ca, hội hoạ v.v. cho tới… ẩm thực.

Trong bài giảng thứ bảy loạt bài ‘Trung Hoa văn minh sử’, Giáo sư Chương Thiên Lượng giảng: 

“‘Rời rạc’ chính là không liên tục. Bởi vì Đạo gia là chọn đồ đệ, cho nên người được chọn phải là đồ đệ đặc biệt tốt.

Trong ‘Luận ngữ’ của Khổng Tử có một đoạn đối thoại giữa Khổng Tử và đồ đệ Tử Cống (tên Tứ). Tử Cống là một người rất thông minh và am hiểu tâm lý nhân vật, đồng thời cũng là người rất nhiều tiền và làm ăn rất khá. Đôi khi Tử Cống có chút phô trương đắc ý. 

Có một lần hai thầy trò nói chuyện với nhau, Khổng Tử hỏi Tử Cống: ‘A Tứ à. Con so với Hồi (Nhan Hồi) như thế nào?’. Tử Cống khiêm tốn một chút rồi trả lời rằng: ‘Tứ con sao dám sánh với Hồi. Hồi nghe một biết mười, còn Tứ con đây nghe một chỉ biết hai’. Lúc này Khổng Tử nói: ‘Vậy chúng ta không bằng cậu ta rồi’. 

Tôi kể câu chuyện này cho mọi người chính là muốn nói, khi Khổng Tử giảng đạo lý cho Nhan Hồi, ông giảng một, không cần giảng hai ba bốn năm sáu bảy tám chín, thì Nhan Hồi đã suy nghĩ đến đó rồi.

Vậy thì nếu Khổng Tử chỉ giảng một và mười, vậy thì từ hai đến chín phải làm thế nào? Chính là phải tự mình suy nghĩ. 

Đạo gia chọn đồ đệ chính là chọn người như vậy, nghe một biết mười. Cho nên khi ông giảng cho đồ đệ, ông không cần giảng quá rõ ràng, điểm ngộ đến đó là dừng, đồ đệ liền minh bạch.

Vậy nên ở đây bạn thấy rằng, tư tưởng của Đạo gia không liên tục (thiếu từ hai đến chín). Do đó rất nhiều người giở ‘Luận ngữ’ hoặc ‘Đạo đức kinh’ hay ‘Binh pháp Tôn Tử’ sẽ phát hiện tính rời rạc của nó. 

Đạo đức kinh có 5000 chữ, nhưng trong đó bao hàm sự sản sinh của vũ trụ, phương pháp trị quốc, dụng binh, xử lý mối quan hệ giữa người với người, quy luật tự nhiên v.v. 

Bạn sẽ phát hiện giữa mỗi đoạn với nhau là không liên tục, ở giữa giống như mất ‘một miếng lớn’. Nếu điều này không được giảng ra thì làm sao hiểu được? Chính là phải dựa vào ‘ngộ tính’ (mức độ lý giải) của bản thân đệ tử mà bổ sung vào. Theo cách nhìn của Lão Tử thì những điều đó không cần giảng. Bởi vì chỉ có người đặc biệt đặc biệt tốt, người đó mới có thể nắm vững toàn diện tư tưởng này của Lão Tử.

Khổng Tử cũng là như vậy, mỗi một tập trong ‘Luận ngữ’ là một đoạn đối thoại giữa Khổng Tử và học trò. Bạn không thấy được đạo lý logic, nhưng trong đó cũng bao hàm đạo lý ‘trị quốc bình thiên hạ’. 

Khổng Tử còn giảng một câu thế này: ‘Đưa một mà không nghĩ ba thì không trở lại’, nghĩa là, nếu bạn không thể từ một mà suy nghĩ ra ba thì tôi không dạy bạn. 

Khổng Tử ‘Đưa một mà không nghĩ ba thì không trở lại’ (Ảnh minh hoạ).

Càng rõ ràng, càng ít không gian cho trí tưởng tượng

Trong cuốn ‘Lịch sử giản lược của Triết học Trung Quốc’, Phùng Hữu Lan viết như sau: ‘Khi người ta bắt đầu đọc tác phẩm triết học Trung Quốc, ấn tượng đầu tiên có thể là: ngôn ngữ và văn chương rất ngắn, không có mối liên hệ gì. 

Mở ‘Luận ngữ’, bạn sẽ thấy mỗi chương chỉ có vài câu thưa thớt, hơn nữa trên/dưới bài viết không có bất cứ liên hệ gì. Mở ‘Lão Tử’, bạn sẽ thấy trong sách chỉ tầm 5000 chữ, không nhiều hơn một chương của cuốn tạp chí, nhưng từ trong đó lại có thể thấy được toàn bộ triết học của Lão Tử. 

Học sinh mà quen với việc suy luận chính xác và luận chứng chi tiết, họ liễu giải triết học Trung Quốc rốt cuộc là gì, họ đơn giản là cảm thấy… mơ hồ mù tịt. Họ sẽ có khuynh hướng cho rằng, bản thân những tư tưởng này chính là không có mối liên hệ nội bộ. Nếu thật sự như vậy, đó có còn là triết học Trung Quốc chăng? Không có tư tưởng liên hệ thì không đáng gọi là triết học (Trung Quốc)’.

Trong cuốn ‘Hiểu sai về đất và người nước tôi’, Lâm Ngữ Đường dùng tiếng Anh để giới thiệu văn hoá Trung Quốc cho người phương tây, ông đã đề cập đến một đặc điểm của văn hoá Trung Quốc. 

Ông nói: ‘Người Trung Quốc rất hàm súc. Người phương tây rất hướng ngoại, nghĩ sao nói vậy. Người Trung Quốc không như thế. Họ rõ ràng là nghĩ mười nhưng chỉ nói có một, chính là giữ lại tính hàm súc’. 

Lâm Ngữ Đường đề cập đến một hiện tượng tính cách con người, tôi cho rằng chính là vì có quan hệ với văn hoá Đạo gia: sau khi tôi nói một, nếu tôi cho rằng bạn đủ thông minh, thì bạn nên tự mình ‘nghĩ từ hai đến chín’ (đó là việc tôi không cần làm). Cho nên bạn sẽ thấy thơ của Trung Quốc cũng là như thế. 

Thơ Trung Quốc: ‘Ý ở ngoài lời’

Bạn xem thơ phương tây, giống như loại thơ 14 hàng của phương tây hoặc Sử thi Homer, nó là tự sự (kể chuyện), nó dùng thơ để kể chuyện. Thơ Trung Quốc không phải vậy. Thực ra truyện thơ Trung Quốc cũng có nhưng rất ít. 

Vậy thơ Trung Quốc như thế nào? Thông thường dùng chữ vô cùng mơ hồ và giản lược để phác hoạ tâm trạng của bạn. Vậy nên bạn thấy Phùng Hữu Lan nói rằng ‘ngôn ngữ Trung Quốc, nó không đủ rõ ràng nhưng có thừa khả năng gợi ý (ám thị)’. Sự việc được giảng trong thơ không thật rõ ràng, nhưng có rất nhiều ‘ám thị’ – implication, trước và sau bổ sung cho nhau. Đương nhiên ‘rõ ràng’ và ‘ám thị’ không thể kiêm cả hai, càng ‘rõ ràng’ thì ‘ám thị’ càng ít. 

Ví như nước, khi tôi nói nước, bạn có thể tưởng tượng rất nhiều loại nước như nước nóng, nước lạnh, nước ấm, nước mát, nước đường, nước muối v.v. Đây chính là càng ‘mơ hồ’, bạn càng có nhiều không gian để tưởng tượng. 

Nhưng khi tôi nói, tôi cần một cốc nước 20 độ, lập tức thứ này được định lại. Khi bạn biểu đạt càng rõ ràng, không gian để bạn phát huy trí tưởng tượng càng ít. Ngôn ngữ/lời nói Trung Quốc cang ‘mơ hồ’ thì càng cấp cho bạn không gian để phát huy trí tưởng tượng. Nó cần ‘ngộ tính’ của mỗi người. Đây là đặc điểm rất điển hình của văn hoá Đạo gia.

Cho nên Phùng Hữu Lan nói rằng hết thảy lý tưởng nghệ thuật, thơ ca, hội hoạ của Trung Quốc mang tính ‘ám thị’ (gợi ý, gợi mở) cao. 

Lấy thơ làm ví dụ, điều nhà thơ muốn truyền đạt thông thường không phải điều trực tiếp nói trong thơ, mà là điều chưa nói trong bài thơ. Theo truyền thống Trung Quốc, thơ hay chính là ‘lời đã hết nhưng ý vô cùng’.

Lý Bạch được mệnh danh là “Thi Tiên”, thơ ông phóng khoáng, ý tứ vô cùng.

Vậy nên độc giả thông minh có thể đọc được ‘ý ở ngoài lời’ trong bài thơ. Nó không phải trên bề mặt chữ, mà là ở trong con chữ và giữa các hàng; nó cho bạn không gian để tưởng tượng. Đây chính là đặc điểm văn hoá Trung Quốc, tôi cho rằng có quan hệ với văn hoá Đạo gia. 

‘Chuẩn xác’ và ‘mơ hồ’: đặc điểm Phật – Đạo lưỡng gia

Để cho gần gũi hơn, tôi lấy ví dụ gần gũi trong cuộc sống thường nhật. Văn hoá phương tây là chủng văn hoá giống như (Chúa) Jesus giảng đạo lý rất rõ ràng cho mọi người.

Phật gia cũng là như thế. Ông mang theo nguyện vọng phổ độ chúng sinh, nên khi đối diện với rất nhiều người, ông xem trọng cách suy nghĩ và lối phân tích rõ ràng. Do đó bạn sẽ thấy Phật gia vì để làm rõ cho người học, nên họ rất coi trọng logic. Họ sẽ giảng rất rõ ràng sự việc cho bạn, người có tư chất khác nhau, thông minh hay không, tất cả đều có thể hiểu được.  

Điều này mang đến một đặc điểm của văn hoá phương tây, đó chính là sự ‘chuẩn xác’ (minh xác).

Tôi lấy việc nấu ăn làm ví dụ. Bạn đến McDonald ăn, dù ở chi nhánh nào trên thế giới, về cơ bản đều là cùng một vị. Bởi vì họ đối với việc lựa chọn nguyên liệu, cắt to nhỏ thế nào, nhiệt độ dầu chiên, chiên trong bao lâu v.v. hết thảy đều chính xác.

Nếu bạn làm món tây – recipe, sẽ có các chủng các dạng cốc đong/cân. Bạn chỉ cần theo đó mà làm, về cơ bản sẽ không thoát khỏi mùi vị đó. Chính là càng chính xác trong các khâu, thì khi đến bước cuối cùng mùi vị càng thống nhất. Cho nên bạn ăn Big Mac ở đâu, mùi vị không khác nhau nhiều. 

Người Trung Quốc không như vậy. Họ nói với bạn làm cá phi lê, chọn miếng cá đại khái nặng bao nhiêu; cắt ra, cắt to nhỏ dày mỏng thế nào cũng không nói; bỏ vào chảo dầu chiên, chiên đến vàng, nhưng vàng như thế nào? Nhiệt độ dầu bao nhiêu họ cũng không nói. Họ nói tiếp là bỏ thêm hành lá, một chút muối, một chút đường, một chút giấm… nhưng chính xác bao nhiêu họ không nói. Không có một định nghĩa chính xác, chỉ có thể dựa vào ‘ngộ tính’ của bạn. 

Nếu ngộ tính bạn tốt, bạn sẽ làm rất ngon, nếu ngộ tính kém sẽ làm rất khó ăn. Những đầu bếp giỏi, 10 người có thể làm những món ngon có mùi vị khác nhau. Còn món tây phần nhiều thì mùi vị thống nhất. 

Tôi cho rằng mối quan hệ giữa tư duy ‘mơ hồ’ của người Trung Quốc với tư duy ‘chính xác’ của người phương tây có liên hệ với tu luyện Phật gia và tu luyện Đạo gia.

Đạo gia là tuyển đồ đệ, họ không giảng rõ cho bạn để xem ngộ tính bạn tới đâu. Đây chính là tính ‘rời rạc’ trong văn hoá Đạo gia mà tôi giảng. 

Hội hoạ Trung Quốc: lưu lại ‘khoảng trống’ 

Lúc nhỏ tôi từng xem ‘Liên hoàn hoạ’, có một câu chuyện như thế này. Có một người bán tranh, một hôm có một người khách đến xem và nhìn chằm chằm vào bức tranh của anh ta. Bức tranh nói về việc dắt một con ngựa qua cầu, có nghĩa một người đang kéo ngựa qua cầu. 

Khách hàng nói: ‘Tôi thích bức tranh này. Giá bao nhiêu?’.  Chủ tiệm nói: ‘500 lượng bạc’. Người khách nói hiện tại không đủ tiền, anh ta quay về lấy, một lúc sẽ quay lại.

Chủ tiệm nhìn lại bức tranh này, thắc mắc tại sao lại có giá như vậy? Sau khi nhìn, anh cảm thấy không đúng. Tại sao? Bởi vì trong tranh có người đang kéo ngựa nhưng không thể nhìn thấy… sợi dây trong bức tranh. Sau đó chủ tiệm cảm thấy đây là một khiếm khuyết trong bức tranh, cho nên đã lấy bút lông vẽ thêm sợi dây.

Kết quả người mua tranh sau khi quay lại nói không mua. Chủ tiệm cảm thấy kỳ lại mới hỏi: ‘Tại sao anh không mua?’. Người đó đáp: ‘Tôi tốn 500 lượng bạc để mua, thứ tôi mua chính là sợi dây tuy vô hình nhưng vẫn cảm nhận được. Ông vẽ thêm vào là thật sự thừa, trái lại là không tốt’.

Bạn hãy xem bức tranh ‘Mục ngưu đồ’ (tranh chăn trâu) của Lý Khả Nhiễm. Trong tranh không vẽ nước, nhưng bạn cảm nhận được trâu đang bơi qua sông. 

Từ trong bức tranh, bạn có thể ‘nhìn thấy’ và ‘cảm nhận’ được nước. Tranh Trung Quốc phải để trống. 

Tranh phương tây thì phải vẽ đầy đủ. Tranh sơn dầu phương tây nếu bạn không tô đủ, bạn không phải là hoạ sĩ giỏi. Tranh Trung Quốc phải để trống, để cho bạn có không gian sáng tạo và tưởng tượng. Điều này chính là tính ‘rời rạc’ của văn hoá Trung Quốc mà tôi giảng”.

*Lời cảm ơn đến tác giả:

‘Trung Hoa văn minh sử’ là loạt bài quy mô lớn thứ hai của Giáo sư Chương Thiên Lượng sau ‘Tiếu đàm phong vân’ (Phiên bản tiếng Việt tên là “Phong vân mạn đàm“)

Tiếu đàm phong vân gồm 5 bộ, trên trang DKN.TV đã dịch được bộ thứ nhất ‘Đông Chu liệt quốc‘. Còn bộ thứ hai đến thứ năm phải mua đĩa và trả phí, đồng thời không được phép dịch nếu không có sự đồng ý của tác giả.

Còn ‘Trung Hoa văn minh sử’ đăng trên trang mạng thành viên Thành trì hy vọng – landofhope.tv. Để xem được loạt bài bài, đầu tiên phải biết tiếng Trung, sau đó là trả phí hàng tháng. 

May thay, nhân ‘Ngày của cha’ 20/6 (tuần thứ ba của tháng Sáu), Giáo sư Chương đăng bài thứ bảy lên kênh Youtube Thiên Lượng thời phân. Giáo sư Chương đã tặng thì chúng ta xin nhận và gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo sư. 

Nếu độc giả nào biết tiếng Trung và hứng thú với văn hoá lịch sử Trung Hoa thì có thể đăng ký làm thành viên của trang Thành trì hy vọng. Những video phân tích chính luận và loạt bài lịch sử của các ‘người chủ trì’ sẽ không làm bạn thất vọng.

Mạn Vũ

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||8e3f57525__

Ad will display in 09 seconds