Năm 39 tuổi, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ sau hơn 500 năm chiến loạn, đây là ‘phong công vĩ nghiệp’, nhưng cũng có rất nhiều bình giá về vị Hoàng đế này. 

Một số người cho rằng Tần Thuỷ Hoàng là hôn quân, bạo chúa. Nhưng người ta thường nói ‘Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã’, nếu Tần Thuỷ Hoàng là hôn quân bạo chúa, tại sao lịch sử lại xếp Tần Thuỷ Hoàng là ‘Thiên cổ nhất đế’ cùng với Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông và vua Khang Hy?

Rốt cuộc trong lịch sử Tần Thuỷ Hoàng là người như thế nào?

Tần Thuỷ Hoàng không phải ‘bạo chúa’, hơn nữa lại trọng dụng người tài

Tần Thuỷ Hoàng không ‘đuổi cùng giết tận’

Trong Bài 26 sách Tam tự kinh thuộc ‘Tài liệu giáo khoa’ mạng Chánh Kiến đã có một đoạn ‘phản biện’ để giúp các em học sinh có một tư duy độc lập như sau.

Đầu tiên nói về những dấu mốc về Tần Thuỷ Hoàng. 13 tuổi, ông đăng cơ; 22 tuổi, ông tự mình chấp chính; đến 39 tuổi thì hoàn thành đại nghiệp thống nhất thiên hạ. Chỉ với 17 năm ngắn ngủi, Tần Thuỷ Hoàng đã kết thúc thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc đầy biến động kéo dài hơn 500 năm.

Các mốc thời gian quan trọng của Tần Thuỷ Hoàng, trong đó vào năm 221 TCN, ông đã thống nhất thiên hạ khi mới 39 tuổi. Ảnh chụp từ ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 2, tập 1: Thụ mệnh ư Thiên.

Sau khi thống nhất thiên hạ, ông lại ban hành một loạt các pháp lệnh và biện pháp có lợi như:

  • Thống nhất văn tự.
  • Thống nhất đo đạc.
  • Thống nhất quốc lộ.
  • ‘Phế phân phong, trí quận huyện’ (廢分封,置郡縣: phế bỏ chế độ phân đất phong hầu, thiết lập chế độ quận huyện), kiến lập ra hoàng triều thống nhất đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Chế độ ‘quận huyện’ này vẫn kéo dài cho đến ngày hôm nay.
Hình minh hoạ cho Độ Lượng Hành (chiều dài, thể tích, khối lượng) trong Tiếu đàm phong vân phần 2, tập 2: Đế quốc hồng nghiệp.

Nói cách khác, đây đều là những công lao vĩ đại không thể nào phủ định. Những việc này ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế như thế nào thì sẽ nói trong bài viết tiếp theo.

Có người cho rằng Tần Thuỷ Hoàng là bạo chúa, nhưng trong Bài 26 cuốn Tam tự kinh lại không cho là như vậy. Nếu giao sứ mệnh thống nhất thiên hạ cho quân vương bất cứ quốc gia thời Chiến Quốc nào, thì không ai làm tốt hơn Tần Thuỷ Hoàng. Nếu như ông thật sự là bạo chúa, mọi người thử nghĩ xem, qua 17 năm chinh phục 6 nước, ông chưa bao giờ có hành vi diệt trừ tận gốc toàn bộ vương tộc các nước.

Nhiều nhà văn sau này miêu tả Tần Thuỷ Hoàng quét sạch 6 nước là ‘bạo’ (暴: tàn bạo), nhưng kỳ thực một số hậu duệ của 6 nước ôm mối hận mất nước, không nhớ đến ơn cứu sống của Tần Thuỷ Hoàng nên mới nói ông như vậy. Nếu Tần Thuỷ Hoàng thật sự tàn bạo, thì hậu duệ của 6 nước đã sớm bị ‘đuổi cùng diệt tận’ rồi.

Loại khí độ to lớn, bao dung cả vương tộc 6 nước đã vượt xa khả năng của một bậc đế vương thông thường. Ông có thể tấn tốc (nhanh chóng) thống nhất 6 nước, nhất định có tài trí hơn người, chí hướng cao xa. Ông là một minh chủ dùng người hiền tài không xét biên giới, không giảng thân phận, đã dùng thì không nghi; nếu không như thế, thì nhân tài đã không hội tụ ở nước Tần. Một người có tâm lượng nhỏ hẹp, không biết trọng dụng nhân tài, thế thì đại nghiệp thống nhất cục diện biến loạn hơn 500 năm không có cách nào hoàn thành.

Tần Thuỷ Hoàng nghe can gián và trọng dụng nhân tài

Việc nghe can gián, trong Bài 26 này không có, nhưng trong ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 1: Đông Chu liệt quốc, Giáo sư Chương Thiên Lượng có đề cập đến chuyện Tần Thuỷ Hoàng nghe ‘Gián trục khách thư’ (諫逐客書: Thư can gián việc trục xuất tân khách) của Lý Tư.

Tranh vẽ Lý Tư chụp từ ‘Trung Hoa văn minh sử’ tập 21.

Chuyện là năm 238 TCN, khi Tần Thuỷ Hoàng 21 tuổi, ở nước Tần phát sinh nội loạn Trường Tín Hầu Lao Ái, sau đó đã bị Tần vương dẹp sạch.

Do cuộc nổi loạn này có liên quan đến Lã Bất Vi, nên Tần vương đã bãi chức Tướng quốc của Lã Bất Vi. Vì danh tiếng của Lã Bất Vi rất lớn, cho nên chư hầu các nước mỗi lần đến Hàm Dương, đều đi bái kiến Lã Bất Vi.

Qua một năm như vậy, Tần vương không thể chịu được bèn viết một phong thư hỏi Lã Bất Vi: “Rốt cuộc ông đã cống hiến bao nhiêu cho nước Tần mà được phong vương ở Hà Nam, có 10 vạn hộ hầu; ông rốt cuộc có quan hệ thân thích gì với nước Tần, đến nỗi tôi phải gọi ông là Trọng Phụ. Hiện tại ta muốn lưu đày ông và gia đình đến Tứ Xuyên”.

Lã Bất Vi sau khi tiếp nhận phong thư, ông sợ Tần vương truy cứu trách nhiệm nên đã uống rượu độc tự tử.

Trong ‘Tư trị thông giám’ chép rằng: “Sau khi Lã Bất Vi mất, đại thần tôn thất của nước Tần tâu với Tần vương rằng: Phàm là bọn khách khanh đến nước Tần, chúng đều vì toan tính cho lợi ích nước chúng chứ không hết lòng vì nước Tần. Do đó thỉnh cầu đại vương trục xuất tất cả những người nước ngoài về nước”. Lệnh trục xuất này gọi là ‘Trục khách lệnh’. 

Trong những người bị trục xuất có một người là Lý Tư, vốn là môn khách của Lã Bất Vi. Ông đã viết một phong thư cho Tần vương, đây là bức thư vô cùng nổi tiếng tên là ‘Gián trục khách thư’. Bức thư này được ghi chép trong ‘Sử ký – Lý Tư liệt truyện’.

Trong thư, Lý Tư nhắc đến những khách khanh (cố vấn nước ngoài) và cống hiến của họ đối với nước Tần: “Năm đó khi Tần Mục Công tranh bá, thì những Bách Lý Hề, Kiển Thúc, Phi Báo, Công Tôn Chi, những mưu thần dũng tướng đó đều không phải người nước Tần.

Sau này Thương Ưởng từ nước Vệ sang nước Tần để biến pháp (cải cách), Trương Nghi từ nước Nguỵ đến nước Tần giải tán liên minh hợp tung của chư hầu, Phạm Thư từ nước Nguỵ đến nước Tần chế định sách lược ‘viễn giao cận công’ thống nhất thiên hạ. Cho nên cống hiến của tân khách đối với nước Tần thật vô cùng to lớn”.

Sau khi đọc xong ‘Gián trục khách thư’, Tần Thuỷ Hoàng liền lập tức dỡ bỏ lệnh trục xuất khách khanh. Điều này cho thấy ông là một người biết nghe can gián, chứ không phải là hôn quân chuyên quyền, độc đoán.

Còn việc Tần Thuỷ Hoàng biết trọng dụng nhân tài, thì trong Bài 26 có viết rằng, Tần Thủy Hoàng dùng người có đặc điểm lớn nhất là ‘lỏng tay’. Một khi ông đã dùng thì không nghi ngờ, không can thiệp quá sâu, mà cho thủ hạ tự quản, đồng thời trao quyền tự chủ cực lớn đối với họ. 

Tần Thuỷ Hoàng giao 20 vạn đại quân cho Lý Tín, 60 vạn cho Vương Tiễn, 30 vạn cho Mông Điềm, hơn nữa ông không thiết lập các loại hạn chế để gây trở ngại cho quyền lực, cũng không can dự vào tiệc chỉ huy chiến đấu của các tướng lĩnh. Sau khi thống nhất toàn quốc, Tần Thuỷ Hoàng tiếp tục trọng dụng những công thần lão tướng như Lý Tư, Vương Tiễn, Mông Điềm v.v. Những danh tướng và lão thần đều ‘có thuỷ có chung’, đồng thời giữa quân – thần cực kỳ ít nghi kỵ.

Một số ý kiến khác cho rằng Tần Thuỷ Hoàng vì để xây Vạn Lý Trường Thành mà bóc lột người dân. Nhưng trên thực tế không phải như vậy. 

Trong cuốn ‘Trung Hoa văn minh sử’ quyển thượng, Giáo sư Chương Thiên Lượng nói rằng, từ thời Tần – Hán, Trung Quốc không ngừng bị các dân tộc thiểu số xâm lược. Loại xâm lược này bắt đầu từ thời kỳ Chiến Quốc, đến cuối thời Chiến Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ dân tộc Hung Nô ở thảo nguyên. Lúc ấy các quốc gia ở phương bắc như nước Yên và nước Triệu đều xây ‘trường thành’ ở biên giới quốc gia của mình.

Khi nói đến Trường Thành, trong ấn tượng của nhiều người là do Tần Thuỷ Hoàng xây dựng, nhưng thực tế không phải như vậy. Là người nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Chương đã xác minh một việc đó là: Tần Thuỷ Hoàng chỉ nối những trường thành đó lại. 

Mà nối trường thành đã có sẵn không phải là việc quá tốn công nhọc sức, cho nên cũng không thể nói rằng Tần Thuỷ Hoàng bóc lột người dân để xây Vạn Lý Trường Thành được.

Chân tướng về ‘đốt sách chôn Nho’

Năm 213 và 212 TCN đã phát sinh sự việc ‘đốt sách chôn Nho’ (Phần thư khanh Nho – 焚書坑儒), đem đến nhiều đánh giá về Tần Thuỷ Hoàng, nhưng sự thật lịch sử rốt cuộc là gì? Trong loạt bài lịch sử ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 2, tập 2: Đế quốc hồng nghiệp (帝國鴻業), căn cứ từ chính sử, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã giảng việc này như sau. 

Về sự kiện ‘đốt sách’, khi ấy Tần Thuỷ Hoàng đang dùng cơm với các quan ở Hàm Dương, có một ‘bác sĩ’ (博士: quan cố vấn thời đó) tên là Thuần Vu Việt đã chủ trương khôi phục chế độ ‘phân phong’ (phân đất phong hầu) thời nhà Chu. 

Sau này Lý Tư cho rằng, chúng ta thực hành chế độ quận huyện đã là hợp lý nhất, không quay lại cục diện đại loạn thời Chiến Quốc, nên đã nói với Tần Thuỷ Hoàng: ‘Sở dĩ ông ấy (Thuần Vu Việt) còn nghĩ đến phân phong, bởi vì đọc sách cổ (cổ thư) quá nhiều. Ông ấy muốn dùng sự việc cổ đại để đo lường tình huống hiện tại’. Lý Tư kiến nghị không cho họ đọc nhiều cổ thư. Vậy phải làm thế nào? Đốt. 

Việc ‘đốt sách’, ngoài sách sử nước Tần, thì sách sử nước khác như lịch sử nước Triệu, Hàn, hay sách trong dân gian như: Thi Kinh, Thượng thư… toàn bộ đốt hết. Những sách nào không đốt? Đó là sách trồng cây, sách nông nghiệp, bốc phệ (bói toán) và y dược. 

Rất nhiều người cho rằng, đây là hạo kiếp của văn hoá Trung Quốc, nhưng Giáo sư Chương không cho là như vậy. Bởi vì sách bị đốt khi đó là sách trong dân gian, còn tất cả các sách vở đều ở trong Thư viện Hoàng gia của nước Tần. Thật sự tạo thành đứt gãy văn hoá Trung Quốc là khi Hạng Vũ tiến nhập Hàm Dương (đô thành nước Tần) đã ‘Hoả thiêu cung A Phòng’. Một ngọn lửa đốt trong 3 tháng đã thiêu rụi toàn bộ Thư viện Hoàng gia của nước Tần. 

Tranh vẽ Hạng Vũ trong ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 2, tập 6: Vong Tần tất Sở. Trong ‘Sử ký’ miêu tả Hạng Vũ ‘Lực khả giang đỉnh’ (sức có thể nâng đỉnh).

Còn sự kiện ‘chôn Nho’ xảy ra năm 212 TCN, khi đó có 2 người, nhưng một cách nghiêm khắc thì họ không phải là Nho sinh (儒生), vì thứ họ đọc không phải là sách của Khổng Tử; mà họ đọc sách của bọn ‘phương thuật’ (方術) – những người đi khắp ‘giang hà hồ hải’ để lừa người. 

Khi đó Tần Thuỷ Hoàng để bọn họ luyện Tiên dược, với hy vọng sau khi ăn sẽ sống lâu, trường sinh bất tử. 2 người này luyện không ra vì vốn dĩ họ không có công phu thật sự. Sau khi luyện không ra, họ thương lượng với nhau rằng, Tần Thuỷ Hoàng không là cái gì hết, ông ấy không nên trường sinh bất tử, họ còn nói những lời phỉ báng Tần Thuỷ Hoàng. 

Tần Thuỷ Hoàng rất tức giận, phái người đi điều tra, nói rằng: ‘Còn có ai bất mãn với Hoàng đế?’. Kết quả 2 người này bắt đầu đi ‘cắn’ người khác, khi hỏi họ trả lời rằng: ‘Tôi nghe ai đó nói’. Cuối cùng họ đã ‘cắn’ được hơn 400 người, những người đó bị chôn sống ở địa phương Hàm Dương. 

Sự việc chôn sống này trong ‘Sử ký’ không gọi là ‘chôn Nho’ mà gọi là ‘chôn thuật sĩ’ (Khanh thuật sĩ – 坑術士), bởi vì những người này không phải là Nho sinh mà là bọn phương sĩ. Do đó trong ‘Nho lâm liệt truyện’ nói là: “Phần thi thư, khanh thuật sĩ” (焚詩書,坑術士: đốt sách Thi, chôn thuật sĩ).

Trong ‘Nho lâm liệt truyện’ ghi lại câu chuyện đốt sách chôn Nho là: “Phần thi thư, khanh thuật sĩ” (Đốt sách thi, chôn thuật sĩ). Ảnh chụp từ ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 2, tập 2: Đế quốc hồng nghiệp.

Hơn nữa địa vị của Nho sinh thời Tần không phải thấp. Chúng ta xem kỹ lịch sử sẽ biết rằng, sau khi Đại Hán khai quốc, trong thủ hạ của Lưu Bang có một Nho sinh tên là Thúc Tôn Thông – người chế định lễ nghĩa cho Đại Hán. 

Thúc Tôn Thông vốn dĩ là Nho sinh làm quan cố vấn cho nước Tần. Trước khi Tần Thuỷ Hoàng băng hà, ít nhất trong hoàng cung nhà Tần có 70 Nho sinh làm cố vấn cho Tần Thuỷ Hoàng. Nước Tần khi đó rất tôn kính Nho sinh, Tần Thuỷ Hoàng cũng tự mình nói rằng: “Ta đối với Nho sinh là ‘tôn chi thậm hậu’ (tôn kính sâu sắc)”, ông để họ làm quan cố vấn, nắm giữ sách vở, chế định Lễ Nhạc v.v. 

Do đó nói một cách nghiêm khắc, sự kiện ‘chôn Nho’ là không chuẩn xác.

***

Trong loạt bài ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 2: Tần Hoàng Hán Vũ, ở 2 tập đầu được Giáo sư Chương cho phép xem miễn phí, Giáo sư Chương có tổng kết 10 phong công vĩ nghiệp của Tần Thuỷ Hoàng đã ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế cả nghìn năm sau.

Chúng ta biết rằng, Trung Quốc tiếng Anh là China, có nghĩa là gốm sứ. Nhưng là người nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Chương nhìn nhận chữ China gồm chữ CHIN + hậu tố A; mà CHIN chính là cách đọc gần giống của chữ Tần (秦, pinyin là Qin2). Đây là điều hết sức thú vị, rốt cuộc sự thể ra làm sao, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ