Rồng, phượng hoàng, kỳ lân, tỳ hưu là tứ đại thần thú của Á Đông, thường xuất hiện trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của con người. Những thần thú này biểu thị cho điềm lành hay điềm dữ? Mỗi thần thú lại mang đặc trưng ý nghĩa như thế nào?

Thần thú là những động vật mang tính biểu tượng, đại diện cho bình an và may mắn. Đây là một loại hình thức biểu hiện độc đáo trong văn hóa Thần truyền của người Trung Hoa. Hình dáng bên ngoài của mỗi thần thú đều có nét đặc sắc riêng biệt, khí chất thần thánh uy nghiêm, hơn nữa còn tràn đầy linh tính. 

Rồng – vua của vạn thú

Ảnh ghép minh hoạ.

Rồng là vua của muôn thú, là tượng trưng cho bậc đế vương, là Thần vật uy nghiêm không thể xâm phạm. Rồng bẩm sinh có mang theo năng lực khác thường, trên thân thể rất dài của nó phủ đầy những mảnh lân giống như vây cá. Nó có thể sinh sống ở đáy biển sâu, sông hoặc ao hồ. Chỉ cần nó chuyển động sẽ tạo thành từng đợt sóng lớn. Sự uy mãnh của rồng là không gì sánh được: bờm của nó trông giống như bờm sư tử, sừng như gạc nai, râu như râu hổ, và móng vuốt sắc nhọn như vuốt chim ưng. Những đặc điểm này cho phép rồng có thể đi lại tự do trên đất liền, đồng thời cũng có thể tùy thời tùy lúc bay lượn trên bầu trời, cưỡi gió đạp mây. 

Trong tất cả các ghi chép được truyền lại từ xa xưa, rồng vẫn luôn là loài linh thú nghe theo lệnh Trời. Nó chấp hành những mệnh lệnh nghiêm cẩn không thể trái lại của Trời. Vì vậy, con người đối với rồng vô cùng tôn sùng, kính sợ. Loài linh thú này sở hữu sức mạnh toàn năng, có thể lên trời xuống đất, đi trên mây bơi dưới nước. Tương truyền, rồng dựa theo mệnh lệnh của Trời mà mang nước từ biển, sông, hồ lên không trung sau đó lại để nước này dựa theo thiên mệnh mà rơi xuống nhân gian. 

Nước mưa rơi xuống nhiều ít bao nhiêu có quan hệ rất trọng yếu đến việc thu hoạch nông nghiệp. Bởi vậy, con người không thể không khẩn cầu rồng – thần thú điều khiển mưa – thương cảm cho những khó khăn trong cuộc sống của họ mà ban cho họ những ngày tháng mưa thuận gió hòa. Theo thời gian, con người dần hình thành cảm giác tôn kính đối với rồng một cách tự nhiên. Bởi lẽ, việc rồng làm mưa như thế nào, cũng như lúc nào thì cho mưa xuống có quyết định rất lớn tới sự tồn vong của con người . 

Trong các truyền thuyết Trung Hoa, con người thường cung kính gọi rồng là ‘Long vương’. ‘Long vương’ là thần nắm giữ quyền làm mưa và quản lý sông hồ, đồng thời cũng cần phải báo cáo định kỳ cho Thiên đế về công việc điều khiển mưa của mình. Các Long vương đều nhất nhất chấp hành thánh lệnh từ Thiên đế không chút cẩu thả, nên hình tượng Long vương từ trước đến nay đều vô cùng uy nghiêm. Đặc biệt là sau khi bị những hành vi tà ác không thể tha thứ của nhân loại làm cho tức giận, họ sẽ dùng thần lực hô mưa gọi gió để giáng xuống thiên tai trừng phạt nhân loại. 

Lại nói, nước có thể duy trì sự sống của con người thì cũng có khả năng làm cho con người bỏ mạng. Khi mưa lớn trở thành thiên tai, con người chỉ có thể giống như trước đây: dựa vào việc ‘kết nối’ với rồng để cầu xin rồng dừng mưa. Liên quan đến điều này, từng có một câu chuyện được ghi lại như sau: Vào những năm Khai Nguyên triều Đường, đất nước xảy ra một trận hạn hán lớn. Đường Huyền Tông liền cho dựng đàn cầu mưa. Chẳng ngờ, thế mưa quá mạnh, mặc dù giải được hạn hán nhưng lại gây ra thiên tai lũ lụt. Đang lúc lo lắng, Đường Huyền Tông nghe được cao nhân chỉ điểm: cho người làm 5-6 hình rồng bằng bùn đặt trong chùa. Sau đó sai người vừa đổ nước lên trên thân của tượng rồng vừa đọc to chú ngữ. Quả nhiên, chỉ qua một lúc, mưa liền dừng lại, trời quang mây tạnh. 

Là linh vật trong truyền thuyết, trên thân của rồng hội tụ hai loại đặc trưng là “nhân ái” và “uy nghiêm”. Rồng làm mưa cho con người, nuôi dưỡng vạn vật, đem đến cho con người ân huệ vô cùng lớn lao. Đó là ‘nhân ái’. Nhưng nếu như rồng nhìn thấy con người phản trời, phản đất, không làm việc thiện chỉ làm điều ác thì nó cũng sẽ không chút lưu tình mà nghiêm khắc trừng phạt con người, thể hiện ra mặt ‘uy nghiêm’ của mình. Giống như đại hạn hán, sóng thần, đại hồng thủy – đó đều là Long vương đang thi hành đạo Trời.  

Phượng hoàng – loài chim cát tường

Ảnh: Internet.

Chim phượng là vua của các loài chim, tượng trưng cho điềm lành. Con đực gọi là “phượng”, con mái gọi là “hoàng”. Chim phượng có vẻ bề ngoài vô cùng đẹp đẽ và hoa lệ. Miêu tả trong cuốn “Nhĩ nhã” viết: “Đầu gà, cằm yến, lưng rùa, đuôi cá, có màu ngũ sắc, cao 6 thước”. Nếu như nói đặc điểm mà rồng biểu hiện ra là năng lực khiến cho người người kính sợ, thì chim phượng biểu hiện ra lại là vẻ đẹp không gì sánh bằng. 

Con người cho rằng: chim phượng hoàng bay lượn trên bầu trời sở hữu một lực lượng thần kỳ có thể ‘kết nối trời và đất’. Hơn nữa, loài chim mỹ lệ và lương thiện này cũng là dấu hiệu dự báo những điều tốt lành sắp xảy đến. Theo truyền thuyết, phượng hoàng là loài chim được sinh ra từ ‘vương quốc của quân tử phương Đông’, thường hay bay qua tiên cảnh ở núi Côn Luân. Chỉ cần phượng hoàng bay đến trú ngụ tại núi Đan Huyệt vào buổi tối, thiên hạ sẽ nghênh đón một sự kiện trọng đại đem đến cuộc sống an ổn hạnh phúc cho muôn nhà.  

Theo “Sơn Hải Kinh”, mỗi một bộ phận trên thân của chim phượng đại biểu cho các phẩm chất tốt đẹp khác nhau: “Núi Đan Huyệt… có một loài chim. Hình dáng của nó trông giống như gà, lông vũ trên thân có năm màu sắc rực rỡ, hoa văn trên thân có hình dạng giống như chữ viết. Tên gọi của loài chim đó là phượng hoàng. Hoa văn trên đầu của nó giống hình chữ Đức (德). Hoa văn trên cánh giống hình chữ Nghĩa (義). Hoa văn trên lưng giống hình chữ Lễ (禮). Hoa văn trên ngực giống hình chữ Nhân (仁), hoa văn trên bụng giống hình chữ Tín (信). Loài chim này, ăn uống thong dong tự nhiên, ca hát nhảy múa cũng rất tự do tự tại. Một khi Phượng Hoàng xuất hiện, đó là điềm lành biểu thị thiên hạ sẽ an ổn, thái bình”. Vậy nên, có thể nói rằng phượng hoàng bay tới nơi nào cũng mang theo ‘đức’, ‘nghĩa’, ‘lễ’, ‘nhân’, ‘tín’ đến nơi đó. Bất cứ địa phương nào cũng cần có những đức hạnh này. Bởi vì, chúng nhất định sẽ mang tới cho con người nơi đó một thời đại tươi đẹp, phồn vinh.  

Thế kỷ 12 trước Công nguyên, nhờ vào sự tận tâm quản trị đất nước bằng tài trí hơn người của Chu Thành Vương, người dân vô cùng giàu có, thịnh vượng. Các nước chư hầu phía Nam đều thần phục ông. Khi Chu Thành Vương cùng các chư hầu gặp mặt, người đương thời đã sử dụng câu thơ ‘Phượng hoàng minh hĩ, ư bỉ cao cương. Ngô đồng sinh hĩ, ư bỉ triêu dương’ (Phượng hoàng hòa tiếng hót vang, trên ngọn đồi cao cao. Những cây ngô đồng sinh trưởng trên đồi, hướng về phía ánh sáng mặt trời tại phương đông) để hình dung khung cảnh lúc bấy giờ. 

Thuận theo thời gian trôi qua, phượng hoàng dần được đưa thêm vào nhiều nét tính cách phong phú. Nó “thích lửa”, “coi trọng sự trong sạch đoan chính”, “có đức hạnh tốt”, “vẻ ngoài mỹ lệ”. Hướng tới phượng cũng tức là người Trung Quốc đang hướng tới một cuộc sống hạnh phúc. Khi chim phượng trong truyền thuyết trở thành biểu tượng cho một loạt các danh từ tốt đẹp như: “cát tường như ý”, v.v…, chỉ cần nhắc đến tên của nó là người ta sẽ ngay lập tức cảm thấy vui vẻ, thoải mái.  

Kỳ lân loài thú nhân đức

Ảnh: Internet.

Nếu như phượng là loài chim của sự may mắn thì kỳ lân chính là loài thú cát tường. Đầu của nó trông giống như đầu rồng, thân giống như hươu, mắt như sư tử, lưng như hổ, trên mình có vảy cá, móng như móng ngựa, uy phong tám mặt. Thời cổ đại, kỳ lân được coi là loài thú lành, loài thú của sự nhân nghĩa. Trong truyền thuyết, chỉ những thời điểm thái bình thịnh thế, thánh nhân trị vì đất nước mới có kỳ lân xuất hiện. 

“Tả truyện” có ghi lại một câu chuyện như sau: Vào năm trị vì thứ 14 của Lỗ Ai Công, Thúc Tôn thị trong lúc đi săn đã bắt về được một loài thú hoang hình dáng kỳ quái, đặc biệt. Mọi người khi nhìn thấy đều lo lắng rằng con thú này sẽ đem lại điềm xấu nên bèn tới hỏi xin ý kiến của Khổng Tử. Trái với dự đoán, sau khi Khổng Tử nhìn thấy con thú liền nhận định nó chính là kỳ lân. 

Con người khi đó đều tin rằng kỳ lân có thể đem lại cát tường may mắn cho bản thân. Thêm vào đó, nó còn được coi là dấu hiệu cho sự xuất hiện của bậc minh chủ nên các đế vương trong lịch sử đều rất thích dùng trang sức và kiến trúc có hình kỳ lân, vừa để nhắc nhở bản thân, vừa để cầu phúc cầu lành. 

Khác với kỳ lân mang ngụ ý chính trị mạnh mẽ trong mắt của các gia tộc đế vương, kỳ lân trong lòng người dân lại bình hòa hơn nhiều. Kỳ lân là hóa thân của sự thiện lương và phẩm chất tốt đẹp, là biểu tượng cho may mắn, hạnh phúc. Tương truyền, trước khi Khổng Tử ra đời, từng có ngọc kỳ lân đến thăm nhà của ông. Nó còn nhả ra một cuốn sách ngọc trong nhà Khổng Tử. Vậy nên trong dân gian liền lưu truyền cách nói là ‘kỳ lân tống tử’ (kỳ lân tặng con). Nhà nhà đều hy vọng kỳ lân tốt bụng có thể mang đến cho mình một đứa con vừa thông minh vừa đáng yêu. 

Tục ngữ có câu: ‘Thiên thượng kỳ lân nhi, địa thượng trạng nguyên lang’ (trên trời là con của kỳ lân, dưới đất là trạng nguyên). Người dân thích hình dung những đứa trẻ thông minh là những ‘đứa con của kỳ lân’. Trong dân gian, tranh vẽ kỳ lân tặng con đều rất được quần chúng hoan nghênh đón nhận. Ngoài ra, người ta còn thường hay dùng vật dụng trang sức có hình kỳ lân làm quà tặng cho trẻ nhỏ. Hàm ý là muốn chúc cho đứa trẻ đó có thể sớm ngày trở thành nhân tài xuất chúng. 

Tỳ hưu – loài thú thần lanh lợi, tốt bụng

Ảnh: Internet.

Tỳ Hưu (đọc là: píxiū) có dáng vẻ thoạt trông rất hung ác. Nó là con của rồng. Gương mặt của tỳ hưu trông giống như sư tử đực, hai mắt lồi ra, răng nanh dài nhọn hoắt. Tuy nhiên, sự hung hãn của tỳ hưu chỉ là để đối phó với yêu ma quỷ quái họa loạn thế gian hoặc bệnh dịch gây nguy hại cho con người. Còn đối với nhân loại, nó lại là loài thú linh hoạt, thiện lương, biểu tượng cho điềm lành. 

Tỳ hưu có một cái miệng lớn đến mức có thể nuốt trọn vạn vật nhưng lại không có hậu môn để bài tiết. Đây chính là đặc điểm ‘chỉ có vào không có ra’ rất được những người ưa chuộng tiền tài yêu thích. Ai ai cũng đều mong vàng bạc, tài phú có thể ùn ùn không dứt chảy vào trong túi tiền của bản thân.

Ngoài ra, vì tỳ hưu đối với chủ nhân rất trung thành và tận tâm, lại có phẩm chất chính trực, nên dân gian vẫn luôn dùng tượng tỳ hưu làm vật trông nhà giữ cửa, dùng làm linh thú trấn hung trừ tà. Đáng nói đến chính là: trên đầu của tỳ hưu có mọc sừng, còn phân ra thành tỳ hưu một sừng và tỳ hưu hai sừng. Tỳ hưu mọc một sừng gọi là ‘Thiên Lộc’ (phúc lộc của trời); tỳ hưu mọc hai sừng gọi là ‘Tịch Tà’ (trừ tà). 

Liên quan đến nguồn gốc của hai tên gọi ‘Thiên Lộc’ và ‘Tịch Tà’, trong ‘Sử ký’ có ghi chép như sau: Dưới thời Hiên Viên, các thế hệ đời sau của Thần Nông thị đã bước vào suy yếu. Các nước chư hầu xâm chiếm, đánh phá lẫn nhau, ra sức tàn sát bóc lột dân chúng. Trong khi đó, Thần Nông thị lại không có khả năng chinh phạt họ. Vì thế, Hiên Viên bèn rèn binh khí, luyện võ thuật để chinh phạt những nước chư hầu có ý chống lại triều đình. Các nước chư hầu lúc này mới quy thuận. Khi đó, Xi Vưu là nước hung bạo nhất trong số các nước chư hầu, không một ai có thể chinh phục được. Vậy là, Hiên Viên tiến hành ‘tu dưỡng đức, hành đại nghiệp’, chỉnh đốn quân ngũ, nghiên cứu khí ngũ hành, gieo trồng ngũ cốc, trấn an dân chúng, đo đạc lại đất đai bốn phương, huấn luyện các loài mãnh thú như: gấu, bi (một loài giống gấu nhưng to hơn, lông vàng, cổ cao chân dài), tỳ hưu, sơ (một loài thú giống hổ), hổ, v.v… để giao chiến với Xi Vưu. Sau ba trận, Hiên Viên đánh thắng Xi Vưu như ý nguyện.  

Hiên Viên được nhắc đến ở đây chính là Hoàng đế. Trong quá trình ông đặt định nghiệp lớn, tỳ hưu đã lập được chiến công hiển hách. Vậy nên để biểu dương tỳ hưu, Hiên Viên phong cho tỳ hưu là ‘Thiên Lộc’, giao việc phụ trách trông coi bảo vệ tài phú cho hoàng tộc. Vì điều này, tỳ hưu còn được người ta gọi là ‘Đế bảo’. Thêm vào đó, tỳ hưu còn kiêu dũng và thiện chiến. Vậy nên những nơi có tỳ hưu phòng thủ, tà vật tự nhiên sẽ sợ hãi không dám đến gần. Dần dà, tỳ hưu lại được mọi người gọi thêm bằng một cái tên nữa là “Tịch Tà”.  

Vào thời cổ đại, khi các bậc đế vương ra trận đánh giặc rất thích dùng những lá cờ quân đội có hình vẽ tỳ hưu để thể hiện khí thế dũng mãnh và đe dọa kẻ địch. Thêm vào đó, bất cứ bên nào giao chiến đều hy vọng có thể thông qua việc công thành đoạt đất mà chiếm được tài phú. Vì thế, họ lại càng hy vọng tỳ hưu ‘chỉ có vào không có ra’ này có thể mang đến cho họ vận may giành thắng lợi.  

Tất nhiên, không phải người nào đem hy vọng phát tài của mình ký thác lên tỳ hưu cũng có thể nhận thức được hàm ý bên trong hai đặc tính: ‘vượng tài’ và ‘trấn tà’ của nó. Thực chất, hai đặc tính này là ám chỉ tới con người về việc: ‘quân tử yêu thích thu thập tiền tài cũng cần phải thuận theo Đạo’. Người ta thường bố trí các bức tượng hình dáng hung ác của tỳ hưu ở trước nhà với hy vọng rằng nó sẽ giúp cho gia đình mình thu tiền tài, tránh họa nạn. Song, người ta lại thường xem nhẹ một điều, rằng: tỳ hưu dù có trung thành đến thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ có thể ngăn cản tai nạn đến từ bên ngoài cho con người. Nếu như con người không thể giữ tâm mình tránh xa khỏi những thứ tà độc, thì vẫn khó mà tránh được tai họa.

Dùng tỳ hưu hung ác tượng trưng cho tiền tài đổ vào như nước, những bậc hiền triết trong quá khứ đã dạy bảo con cháu một cách khéo léo rằng: ‘Tiền có thể tạo nên con người, cũng có thể hủy diệt con người’. Khi ai đó bởi vì tham mê tiền tài mà bước vào sa đọa, chính bản thân người đó sẽ trở thành “vật tà ác” mà tỳ hưu căm ghét.

Theo Minghui, Sound of Hope
Trường Lạc biên dịch