Đoàng! Tiếng súng kíp chát chúa vang lên! Chúng tôi chạy ra sau nhà đã thấy con chim khướu mẹ vừa kịp rơi xuống đất. Nhìn lên phía ngọn cây đám lông vũ vẫn còn bay lả tả, một vài chiếc lông mảnh như tơ và nhẹ bông đang xoay tròn theo gió trước khi bồng bềnh rớt xuống…

Thằng Pít lạnh lùng cúi mình nhặt con chim cho vào chiếc túi bằng thổ cẩm loang lổ vết máu khô, chẳng thèm để ý gì đến chúng tôi, nó khoác súng rồi lẳng lặng rời đi. Pít là thợ săn khét tiếng trong bản, tuổi mới gần đôi mươi, lầm lì ít nói, hai bên quai hàm bạnh ra, đôi mắt trắng dã, vẻ mặt trông khá tàn nhẫn.

Mế(*) quay sang bảo anh Nhỡ:
– Thôi, chim mẹ bị người ta bắn mất rồi, con trèo lên cây bắt lũ chim con về mà nuôi chứ không có mẹ thì chúng cũng chết vì đói khát! Nhớ cẩn thận kẻo ngã!

Anh Nhỡ buồn rầu trèo lên cây, bứng cả chiếc tổ chim được kết bằng cỏ khô, sẽ sàng cho vào trong ngực áo rồi từ từ tụt xuống.

Chúng tôi chạy ra xem, trong tổ có một đôi chim non. Tội nghiệp! Chúng còn bé lắm, chỉ nhỉnh hơn ngón chân cái một chút, chắc mới nở chưa được bao lâu, da còn đỏ hỏn, lông cánh, lông đuôi vẫn còn đang nhú.

Chúng tôi biết đến sự xuất hiện của nhà khướu mun này từ khi chim bố và chim mẹ bay về ngậm cỏ kết vành làm tổ trên cây lát cổ thụ ngay triền đồi phía sau nhà. Tôi bảo: “Để bao giờ lũ chim con lớn, chúng mình bắt về nuôi”.

Anh Tồ tỏ vẻ hào hứng, nói: “Ừ, phải đấy, anh nuôi một con, Út nuôi một con nhé!”

Nhưng anh Nhỡ lại bảo: “Thôi, để cho lũ chim lớn rồi tự bay đi, ai mà chả muốn ở cùng bố mẹ. Lũ chim chắc cũng vậy”.

Mế cũng nói: “Chim mẹ mà bị bắt mất con, chắc nó buồn lắm đấy!”

Vậy là chúng tôi nghe theo lời của Mế và anh Nhỡ, chỉ ngày ngày dõi theo xem chim mẹ tha mồi, mớm mồi cho lũ con và thấy vui mỗi khi nghe tiếng lũ chim non đòi ăn kêu ríu rít… câu chuyện của nhà chim cứ diễn ra yên bình như thế, cho đến khi tiếng súng săn của thằng Pít vang lên.


Kể từ hôm đó chúng tôi thay phiên nhau bắt châu chấu, bọ muỗm về nuôi chim non. Đôi khướu còn bé quá nên hai con chỉ còn lại một – chú chim út bé hơn không chịu để cho mớm mồi nên đã chết. Con còn lại thì lớn nhanh lắm, chỉ chưa đầy tháng mà trông phổng phao khác hẳn. Anh em chúng tôi đặt tên cho nó là Khướu Mun.

Ba tháng sau Khướu Mun đã mọc đủ lông đủ cánh, thân hình nó nhỉnh hơn nắm tay của người lớn một chút, ức nở, mắt sáng, lông mượt, phía trước ngực có một cái chấm tròn tròn đen óng như màu than đá.

Gần một năm sau thì Khướu Mun đã bắt đầu tập hót, giọng điệu khá bài bản: ngoài giọng hót giống như chim rừng, Khướu Mun còn biết bắt chước tiếng chó sủa, tiếng mèo kêu, tiếng gà gáy v.v. nghe rất lạ! Vì nó được nuôi theo kiểu thả rông từ bé lại sống gần người nhiều hơn là gần rừng nên rất bạo người.

Khướu Mun rất khôn, nó biết nhận diện người quen người lạ, vì vậy chỉ có mấy anh em chúng tôi mới gọi và bắt được nó, ngược lại: hễ có bóng dáng người lạ đến gần là Khướu Mun bay mất. Nó vốn nhanh nhẹn lại tinh ranh, nên đến chú mèo mướp vốn nuôi lâu năm trong nhà được mệnh danh là “thợ vồ cừ khôi” trong nghề bắt chuột cũng phải chịu thua, không bao giờ lại gần Mun được.

Tuy vậy, chỉ cần tôi, anh Tồ hay anh Nhỡ huýt sáo và giơ ngang một cánh tay lên là từ xa Khướu Mun đã bay tới, nó chao nghiêng một vòng và đậu lên cánh tay, Khướu Mun bắt hiệu lệnh và đáp xuống tay chủ nhân một cách nhanh nhẹn và thiện nghệ giống y như chim ưng săn mồi của người Mông Cổ vậy. Điều này làm lũ trẻ chúng tôi cảm thấy hãnh diện và thích thú lắm.

Ảnh minh họa: Wikipedia.

Ngày ngày, khi trời còn sớm tinh mơ, Khướu Mun đã thức dậy gọi mọi người rồi, nó bay ra, đậu lên trên tấm phên dậu bằng tre trước sân nhà say sưa hót một bài chào đón bình minh. Giọng Khướu Mun phải nói là đáng tự hào – ít ra thì anh em chúng tôi cũng cho là như vậy! – chất giọng của nó trong và vang lắm, các điệu hót được nhấn nhá, thay đổi và biến chuyển không ngừng vừa phong phú vừa điệu nghệ, nghe hay đến mê ly! Thường thì Khướu Mun cứ nhún chân rướn cổ, nghiêng bên này, nghiêng bên kia mà say sưa “trình diễn” như thế cho đến khi nắng hửng, sương tan nó mới bay đi kiếm mồi. Nó hay bay ra cánh đồng lúa trước nhà tìm bắt cào cào châu chấu, cũng có khi bay lên cây lát hoặc cánh rừng phía sau nhà kiếm ăn, đến lúc người ta nghỉ trưa là nó lại bay về.

Khướu Mun khôn lắm, nó thường căn giờ về vào lúc cả nhà chúng tôi đang ăn cơm trưa – cỡ 11 giờ rưỡi, hay 12 giờ trưa gì đó, nó sà xuống gần người, dụi dụi mỏ xuống sàn, rung rung đôi cánh rồi ngửa cổ há to miệng kêu líu ríu đòi ăn giống y chim non vậy. Mỗi lần như thế, tôi và anh Tồ hoặc anh Nhỡ lại bón cho nó vài hạt cơm, cũng có hôm là vài con muôm muỗm béo ú để dành sẵn cho nó. Khướu Mun ăn ngon lành rồi lại bay đi, thường là tới khi chiều muộn, tắt nắng nó mới lại trở về.

Có hôm anh Tồ bảo: “Khướu Mun dạo này giỏi lắm, nó biết giả giọng của chim họa mi, lại thêm giọng ‘tép kho cà’, còn biết bắt chước tiếng chim ‘bắt cô trói cột’ nữa”.

Tôi bảo: “Ừ, nó còn biết chào hỏi nhé! cứ sáng ra trước khi say sưa trình diễn giọng hót, bao giờ Khướu Mun cũng mở đầu bằng một giọng nhấn đi nhấn lại rất chi là điệu đà: “Hỏi em là ai!… Hỏi em là ai!…”

Mà quả đúng thế thật, Khướu Mun hay mào đầu trước khi “vào bài” như thế: nó rướn cổ, nhón chân, nghiêng người qua bên trái hót: “Hỏi em là ai!…”; rồi lại rướn cổ, nhón chân, nghiêng người qua bên phải hót: “Hỏi em là ai!…” – ấy là hai anh em chúng tôi dựa trên thanh điệu mà Khướu Mun thường hót rồi luận ra như thế, chứ kỳ thực nó đâu có biết nói tiếng người!…

Vậy là anh em chúng tôi lại bắt chước điệu bộ của Khướu Mun: Tôi giả bộ rướn cổ nhún chân, nghiêng người sang bên trái hát “hỏi em là ai!…”; anh Tồ cũng bắt chước theo, dang tay, nghiêng người qua bên phải hát “hỏi em là ai!…”

Anh Nhỡ và chị Nhinh khi này đang ngồi chẻ nứa đan cót dưới sân nhà chứng kiến câu chuyện và điệu bộ của chúng tôi, cả hai không nén nổi cười phá lên! Nhất là anh Nhỡ, mặt đỏ gay, bò lăn ra đất mà cười sặc sụa! – Nhưng tôi và anh Tồ thì thấy chẳng có gì là đáng buồn cười ở đây hết cả! – người lớn đôi khi đến kì lạ.

Hai năm nữa lại thấm thoát trôi qua, Khướu Mun dạo này có trò chơi mới mà chúng tôi cho rằng không hay ho gì cho lắm: nó thích chòng ghẹo đám gà con. Chẳng là nhà tôi khi ấy đang nuôi một đàn gà mới ấp, cỡ hơn chục con gì đó, những chú gà mới nở, thân hình nhỉnh hơn trái cau một chút, lông vàng tơ, mượt óng, líu ríu chạy theo mẹ kiếm mồi trông đến là thích mắt. Nhưng có lẽ Khướu Mun thì không cho rằng như thế. Vậy là nó thường kiếm cớ bắt nạt lũ gà con: rình lúc gà mẹ sơ ý, nhanh như cắt, Khướu Mun bay xà xuống mổ lũ gà con đau điếng, khiến chúng kêu hoảng lên chí chóe, chạy bạt mạng rúc vào dưới cánh gà mẹ!

Gà mẹ bênh con, xem chừng tức giận lắm, mỗi lần như thế nó thường xù lông giang cánh đuổi đánh Khướu Mun, nhưng đâu có dễ dàng như vậy! Mun ta đã bay thoắt lên cành cây cao tự khi nào, khiến cho gà mẹ chỉ đành ngảng cổ, dậm chân đứng nhìn bất lực. Sự tình cứ lặp đi lặp lại như thế đến vài tuần…

Ảnh minh họa: Pixabay.

Vào một buổi trưa hè nọ, trời nóng như đổ lửa, anh em tôi đang thiu thiu nằm ngủ trên mấy chiếc võng đay treo dưới gầm nhà sàn thì nghe tiếng kêu ran: Chóe… chóe… choé!… Tuy nhiên tiếng kêu lần này nghe lạ lắm – nó thảm thiết hơn, không giống tiếng của lũ gà con. Mế từ nhà sàn trên gọi với xuống bảo: “Mấy anh em con chạy ra ngó xem sao, không chừng con Khướu Mun nó lại mổ chết lũ gà con đấy!”

Chúng tôi chạy nhao ra: thấy dưới gầm đống nứa to ngay phía đầu nhà bên kia, con gà mái mẹ đang dẫm và đè cả thân mình to sù sụ lên Khướu Mun mà mổ trối chết! Khướu Mun kêu lên thảm thiết, máu chảy ướt lông, đôi cánh buông xuôi rã rượi. Anh Nhỡ vội vàng chui đầu, lùa tay vào trong gầm đống nứa, gạt gà mẹ sang bên và lôi Khướu Mun ra. Tội nghiệp! Khướu Mun nằm như thoi thóp trên tay anh Nhỡ, ức thở phập phồng, một chân của Mun đã bị gà mẹ mổ làm cho đứt lìa, máu chảy dính bết cả mảng lông tơ dưới bụng.

Chúng tôi nhìn qua hiện trạng là đoán ra được ngay sự tình: Có lẽ trưa nay, gà mẹ đưa đám con vào trú chân dưới gầm đống nứa to để tránh nắng – ngày xưa nhà tôi vẫn hay tích loại nứa thân to gần bằng đường kính của chiếc phích nước như thế để đan cót bán cho bà con trong bản phơi lúa – và như thường lệ Mun ta sà xuống mổ lũ gà con, nhưng vì là chui vào trong gầm đống nứa nên Khướu Mun đã không thể bay thoát ra như mọi khi được, kết quả là chịu thảm bại dưới những cú mổ căm giận của con gà mái mẹ.

Chúng tôi đưa Khướu Mun lên nhà sàn, bôi rượu mật gấu vào khắp các vết thương và buộc vải cầm máu cho nó. Mãi tới sáng hôm sau, Khướu Mun mới có vẻ hồi lại, trông nó đã tỉnh táo hơn, mặc dù vẫn chưa thể bay được. Thật là may mắn! Chúng tôi – và có lẽ cả Khướu Mun nữa – chỉ lo nó không qua nổi nạn này. Tối đó, anh Nhỡ cho Khướu Mun uống thêm vài giọt mật gấu pha đặc để trị thương… Cỡ gần một tháng sau thì Khướu Mun hồi phục hoàn toàn, vết thương ở chân cũng đã liền da. Tuy nhiên lúc này nó đã là một chú Khướu Mun cụt chân.

Lại thêm vài năm nữa trôi qua, kể từ ngày bị cụt chân Khướu Mun xem chừng đổi tính, nó trở nên tinh ranh dữ dằn hơn, mặc dù vẫn hót hay – thậm chí còn hót hay và nhiều giọng hơn trước. Khoảng hơn một năm trở lại đây, Khướu Mun biết giữ nhà, cứ thấy bóng dáng người lạ đến là nó bay sà tới mổ vào chân người ta và kêu lên choe chóe. Nhiều hôm khách chưa vào đến sân, nghe tiếng kêu của Khướu Mun là chúng tôi đã biết có ai đó đang ghé thăm nhà rồi.

Mế bảo: “Từ ngày con Mun bị cụt chân, anh Nhỡ cho nó uống vài giọt mật gấu nên nó mới trở nên dữ tính đến vậy”. Chúng tôi cũng tin là như thế, bởi người dân miền núi khi xưa – đặc biệt là đám thợ săn – đều cho rằng: mật gấu rừng trị nội thương rất tốt. Tuy vậy, ai uống mật gấu nhiều đều trở nên nóng tính…

Ảnh minh họa: Miền cộng đồng.

Một chiều nọ, có cái Bó ghé sang nhà tôi chơi – Bó là con gái nhà bác Pừng hàng xóm ở sát cạnh nhà tôi, nhưng nó ít ở nhà, vì đi học tận trên trường Nội trú huyện, có khi cả tháng mới thấy về. Từ trên sàn nhà chúng tôi đã nghe tiếng Khướu Mun kêu choe chóe, rồi tiếng cái Bó la hét lên ầm ĩ, cả ba anh em tôi nhảy vội xuống chân cầu thang, chạy ào ra đầu ngõ… nhưng đã quá muộn rồi: chúng tôi thấy cái Bó đang ngồi thụp bên gốc cây mận bên kế bên ngõ với vẻ mặt lo sợ. Sát cạnh nó, ngay giữa lối đi là xác con Khướu Mun đã bị giẫm bẹp, mỏ Khướu Mun há ra rộng hoác, hai mắt đờ dại, đôi cánh rũ rượi, chân co quắp!

Chúng tôi nhặt Khướu Mun lên, nghẹn ngào không nói lên lời. Không cần hỏi thêm gì mấy anh em tôi cũng đoán ra sự tình: Trong lúc bất ngờ bị Khướu Mun sà xuống mổ chân, cái Bó vì hoảng sợ và luống cuống nên đã vô tình mà giẫm chết mất Mun.

Anh Nhỡ đặt xác Khướu Mun vào bên trong một cái ống nứa khô có lót lớp vải thổ cẩm mềm – lại chế thêm cả phần nắp đậy. Ba anh em chúng tôi đem chôn Mun dưới gốc cây lát ngay phía sau nhà, nơi mà khi xưa cha mẹ Khướu Mun đã từng bay về làm tổ. Cũng nơi gốc lát cổ thụ này trước đây, mẹ Khướu Mun đã rớt xuống lìa đời ngay sau tiếng súng săn oan nghiệt của thằng Pít… Sự vắng bóng của Khướu Mun khiến chúng tôi buồn tiếc và hụt hẫng trong suốt nhiều mùa hè sau này. Cũng kể từ đó mấy anh em tôi không ai nuôi thêm bất kỳ một con chim nào khác.


Đã vài chục năm trôi qua rồi, kể từ ngày ấy. Những lớp thế hệ sau trong gia đình chúng tôi giờ đây cũng đang lớn dần lên, nhưng tuổi thơ của chúng dường như không còn được bình yên như quãng ngày xa xưa ấy… Chúng mải mê với ti-vi, máy tính và điện thoại di động; chúng phạc phờ thâu đêm suốt sáng với mấy trò chơi game hay ồn ào trong tiếng nhạc sàn hoặc chạy đua cùng dòng xe phân khối lớn… Những nếp nhà sàn truyền thống ba gian, bốn gian, năm gian hai trái làm bằng gỗ sến, gỗ táu, mái lợp lá tranh hoặc lá cọ dày, rủ màu nâu sẫm cũng không còn hiện diện nhiều – người ta đã thay thế dần bằng nhà xây hoặc nhà cấp bốn lợp mái tôn xanh đỏ. Cây lát cổ thụ khi xưa giờ đây cũng không còn, cánh rừng già phía sau nhà tôi người ta đã chặt phá, san ủi mặt bằng từ lâu. Nắng hạ bây giờ dường như cũng mệt mỏi và chói chang hơn trước. Tuổi thơ của anh em chúng tôi đã lùi vào kí ức từ lâu, rất lâu rồi, giống như những thước phim cổ tích bị xóa nhòa dần theo năm tháng… Hồn của mẹ con Khướu Mun giờ đây không biết đang phiêu phất nơi nào.

Thương nhớ tuổi thơ xưa!…

Đường Tân

(*) Mế: Mẹ – Phương ngữ.

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||c2563d8eb__

Ad will display in 09 seconds

Từ Khóa: