Lại nói về phía Tào doanh, sau khi Quan Vũ rời đi, có một số tướng sĩ đề nghị nên đuổi theo bắt Quan Vũ đưa về. Tào Tháo ngăn cản bọn họ, ông nói rằng: “Mỗi người thờ một chủ, không cần đuổi theo”…

Mặc dù trong lòng đầy tiếc nuối, nhưng Tào Tháo vẫn tôn trọng lựa chọn của Quan Vũ, cho Quan Vũ được toại nguyện với lòng trung nghĩa đáng quý của mình. Quan Vũ giết địch uy chấn thiên hạ, lập công báo đáp Tào Tháo, để lại một lá thư liền rời đi, ngàn dặm xa xôi đi tìm Lưu Bị, tinh thần trung dũng của ông bất luận ở trong thời đại nào cũng đều là tấm gương xuất chúng, nổi tiếng từ xưa đến nay vậy.

Quan Vũ: tận trung tận nghĩa trấn giữ Kinh Châu

Những năm tháng nước sôi lửa bỏng ấy chính là cuộc cạnh quanh khốc liệt nhắm vào Kinh Châu của chính quyền Tam Quốc. Quan Vũ luôn đi theo Lưu Bị, phối hợp chiến lược tác chiến của liên quân Tôn Lưu, tiến có thể tấn công, lùi có thể phòng thủ, hoàn toàn thể hiện phong thái của một đại tướng, cuối cùng giúp Lưu Bị trấn giữ một nửa Kinh Châu.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là id13048063-sanguozhi-guanyu6-450x635-1.png
“Vân Trường cạo xương trị độc” trong “hình ảnh Tam Quốc Chí” (Phạm vi công cộng)

Sau trận Xích Bích, Kinh Châu được chia thành ba phần; Tào Tháo nắm giữ ba quận ở phía bắc, đại tướng Tào Nhân trấn giữ Giang Lăng ở Nam Quận; Đông Ngô phái thống soái Chu Du giao chiến trực diện với Tào Tháo, trải qua một năm giao chiến vất vả, cuối cùng chiếm được một phần Nam Quận và một phần Giang Hạ; Lưu Bị đi riêng một con đường: xuống phía nam chiếm giữ bốn quận phía nam Kinh Châu. Sau đó, Đông Ngô lấy danh nghĩa “mượn Kinh Châu”, nhường lại Nam Quận cho Lưu Bị, để làm áp lực quân sự. Thế là Kinh Châu biến thành cục diện đối diện Tào, Lưu một nam một bắc.

Trong khoảng thời gian này, Quan Vũ từng thống lĩnh một trăm chiếc tàu chiến, trợ giúp Lưu Bị phá giải vòng vây ở Đương Dương, một mình thống lĩnh quân lính đảm nhận nhiệm vụ “tuyệt bắc đạo” (chặn các tuyến đường phía bắc Giang Lăng), nhằm ngăn chặn quân chi viện đi xuống phía nam trợ giúp Tào Nhân, sau đó đóng quân tại bờ sông phía bắc, xây dựng lại Giang Lăng thành. Mãi cho đến năm Kiến An thứ 16 (năm 211), Lưu Bị vào Thục, Quan Vũ và Gia Cát Lượng, Trương Phi và Triệu Vân cùng nhau trấn thủ Kinh Châu. Ba năm sau, khi quân sư Bàng Thống bên cạnh Lưu Bị qua đời do trúng mũi tên, Gia Cát Lượng mới cùng mọi người phụng lệnh vào Thục chi viên, một mình Quan Vũ gánh vác trọng trách trấn giữ 5 quận Kinh Châu.

Kinh Châu thời xưa là yếu địa giao thông và là vùng đất tứ chiến – mảnh đất mà các nước đều muốn tranh giành. Nếu như việc trấn giữ Kinh Châu có ý nghĩa to lớn, vậy tướng lĩnh trấn giữ thành phải là người có độ trung thành, năng lực chỉ huy, danh tiếng cá nhân đẳng cấp nhất. Đối với Lưu Bị mà nói, trong tình huống Gia Cát Lượng vào Thục, Quan Vũ tuyệt đối là ứng viên độc nhất vô nhị. Hơn nữa, trong mắt của hai kẻ địch lớn như Ngụy và Ngô, “Thục là nước nhỏ, danh tướng chỉ có Vũ”, “đã chiếm được Kinh Châu, có thể thực thi ân đức và tín nghĩa”, có thể nói Quan Vũ trấn giữ Kinh Châu đích thực là có tác dụng quan trọng trọng việc củng cố hậu phương, thu phục lòng dân, nhiếp phục quần hùng.

Một mặt khác, đường tới Kinh Châu, dù là ngồi thuyền hay cưỡi ngựa đều thuận lợi, rộng lớn thông thoáng, có rất ít những quan ải thích hợp cho một người trấn giữ, cần phải có binh lực đầy đủ để làm hậu thuẫn. Theo tình huống thực tế, thực lực của Lưu Bị yếu nhất trong Tam Quốc nhưng lại chiếm được hơn một nửa Kinh Châu quá sớm. Tại đây, Lưu Bị không chỉ phải đối đầu với đội quân lớn mạnh của Tào Tháo, mà còn phải luôn luôn đề phòng Đông Ngô có thể gây trở ngại bất cứ lúc nào. Vì vậy, Quan Vũ ở lại trấn giữ Kinh Châu, nhìn tưởng là quyền cao chức trọng, nhưng thực ra lại là tiếp nhận một nhiệm vụ cực kỳ gian nan từ tay của Lưu Bị.

Nhìn lại Quan Vũ một mình trấn thủ Kinh Châu, một mình nắm giữ ‘yết hầu’ của Trung Nguyên, ông cũng trở thành một sức mạnh mà các lộ chư hầu muốn lôi kéo. Ví dụ như Tôn Quyền phái sứ giả đi gặp Quan Vũ, hy vọng có thể kết thành thông gia với Quan vũ. Hơn nữa, Lưu Bị ở Ích Châu xa xôi, một mình Quan Vũ trấn giữ Kinh Châu, nắm giữ trong tay mấy vạn thủy quân, cũng hoàn toàn có cơ hội chiếm đất xưng vương, thậm chí trở thành một quốc gia quân phiệt độc lập ngoài thế lực Tam Quốc. Nhưng đứng trước sự cám dỗ quyền lực của các bên, Quan Vũ vẫn trung thành với Lưu Bị, trung thành với lựa chọn của đạo nghĩa và lương tâm, và ông không làm ra bất cứ hành động nhỏ nào có thể khiến người khác nghi ngờ. Quan Vũ chửi mắng sứ giả mà không sợ đắc tội với Tôn Quyền, dùng thái độ cứng rắn để từ chối hôn sự này.

Năm Kiến An thứ 20 (năm 215), Lưu Bị chiếm được Ích Châu, Tôn Quyền phái Lỗ Túc đi đòi lại Kinh Châu. Quan Vũ và Lỗ Túc tranh luận trước trận chiến không có kết quả, đôi bên bày binh bố trận đối kháng ở hai bên bờ sông. Phía Tôn Quyền phái Lữ Mông, Lỗ Túc, Cam Ninh chia nhau ra giàn trận tại ranh giới Kinh Châu để chờ sẵn. Quan Vũ lấy đại cuộc làm trọng, chỉ dựng trại đóng quân, không để chiến sự thăng cấp. Bởi vì Tào Tháo ở phương Bắc mới là kẻ địch lớn nhất của Lưu Bị và Tôn Quyền, cho nên Lưu Bị quyết định nhượng bộ, lấy Tương Thủy làm ranh giới, chia đều Nam Quận của Kinh Châu với Tôn Quyền. Sau đó Kinh Châu mà Quan Vũ đang trấn giữ trên thực tế chỉ có ba quận mà thôi.

Sau này, Tôn Quyền một lòng muốn đánh chiếm phương Bắc, ông triệu tập quân đội chủ lực tấn công Từ Châu, nhưng lại bị bại trận tại Hợp Phì. Trong thời gian này, Quan Vũ bỏ qua hiềm khích cũ, tuân thủ giao ước tại Tương Thủy, không nhân lúc Đông Ngô đang thất thế mà mang quân đi giành lại vùng đất đã mất của Kinh Châu. Quân tử biết đánh giá và lựa chọn những việc quan trọng để làm, không làm hoặc tạm thời không làm những việc không nên làm, đây chính là phong độ của một đại tướng.

Nước chìm bảy đạo quân, Quan Vũ uy chấn Hoa Hạ

Năm Kiến An thứ 19 (năm 214), Lưu Bị khuyên Lưu Chương đầu hàng, tự mình lên làm Ích Châu mục. Năm Kiến An thứ 24 (năm 219), Lưu Bị lại giành chiến thắng trong trận Hán Trung với Tào Tháo, tự xưng “Hán Trung vương”. Từ đó, chính quyền Thục Hán bước vào thời kỳ toàn thịnh về mặt quân sự, Lưu Bị chiếm giữ mấy chục châu quận, nắm giữ trong tay Ích Châu và Kinh Châu, thuộc hạ lương tướng nhiều vô số, binh mã đông đảo lên đến hai mươi vạn. Bản thiết kế “Long Trung đối sách” mà năm xưa Gia Cát Lượng quy hoạch cho Lưu Bị đang từng bước được thực hiện, Thục Hán dường như càng ngày càng gần với giấc mơ thống nhất thiên hạ.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là id13048055-sanguozhi-guanyu5-450x651-1.png
“Quan Vân Trường và nước chìm bảy đạo quân” trong “hình ảnh Tam Quốc Chí” (phạm vi công cộng)

Tư duy của Gia Cát Lượng là: Đợi thiên hạ có biến cố, Lưu Bị phái một vị thượng tướng thống lĩnh đội quân của Kinh Châu xông thẳng đến Trung Nguyên, Lưu Bị sẽ đích thân thống lĩnh đội quân của Ích Châu tấn công vào Tần Xuyên, Thục Hán xưng bá hoặc thậm chí là phục hưng Hán thất sẽ sớm thành hiện thực. Lúc này, Lưu Bị đã chiếm được Hán Trung ở phương Bắc, Quan Vũ thừa thế đưa ra một quyết định vĩ đại, bằng lòng làm thượng tướng thống lĩnh đội quân Kinh Châu, Bắc phạt Tương – Phàn.

Phàn Thành và Tương Dương đều là trọng trấn của Kinh Châu, tướng thủ thành là hai vị đại tướng Tào Nhân và Lã Thường, bên cạnh đó còn có các danh tướng như Vu Cấm, Bàng Đức, Mãn Sủng, Từ Hoảng, cùng với bảy đạo quân gồm ba vạn người do Tào Tháo đặc biệt phái đến làm quân chi viện. Còn phía Quan Vũ, vì để phòng bị Đông Ngô, lần Bắc phạt này Quan Vũ chỉ mang theo một phần binh lực của Kinh Châu xuất chinh. Quân Tào tổ hợp một đội hình binh tướng vô cùng lớn mạnh chỉ vì để đối kháng lại một danh tướng có danh hiệu “vạn nhân địch” như Quan Vũ. Sự sắp xếp như vậy, định sẵn là sẽ trở thành chiến tích huy hoàng nhất và trận chiến hoành tráng nhất trong cuộc đời Quan Vũ.

Quan Vũ và Tào Nhân trải qua một cuộc đối đầu trường kỳ hơn một năm mới bắt đầu phát động trận chiến này. Năm Kiến An thứ 23, Tào Tháo muốn chinh phạt Quan Vũ, phái Tào Nhân đóng quân tại Phàn Thành. Sau đó, nội bộ Tào Ngụy xảy ra hai lần phản loạn, Quan Vũ nắm lấy thời cơ tốt nhất này, phát động một cuộc tấn công mạnh mẽ với Tào Tháo vào năm thứ hai. Lúc đó đang vào khoảng tháng bảy tháng tám mùa hè, mưa lớn kéo dài nhiều ngày, dẫn đến mực nước ở Hán Thủy dâng cao, cao khoảng năm sáu trượng. Bảy đạo quân chi viện do Vu Cấm thống lĩnh phần lớn đều bị nước lũ nhấn chìm, chưa chiến mà thực lực đã tổn thất nặng nề. Quan Vũ chiếm trọn thiên thời địa lợi, thống lĩnh thủy quân toàn lực tấn công, nhanh chóng lập được chiến tích bắt Vu Cấm và chiêu hàng, bắt sống Bàng Đức và ba vạn binh lính xin hàng.

Tiếp theo đó, Quan Vũ chuyển hướng vây đánh Phàn Thành mà Tào Nhân đang trấn giữ, tường thành khi đó cách nước lũ không quá mấy thước, nước lũ tràn vào trong thành, khắp nơi bị nhấm chìm, mọi thứ sụp đổ, quân lính và dân chúng trong thành vô cùng hoảng sợ. Tào Nhân đành phải ôm quyết tâm hy sinh thân mình vì đất nước, cùng với các tướng sĩ dìm ngựa trắng xuống nước, lập lời thề sẽ vì tòa thành này mà tử chiến đến cùng. Bên phía Quan Vũ vẫn còn dư binh lực để chia binh đi bao vây Tương Dương. Thế là Kinh Châu thứ sử, Nam Hương thái thú nghe tin mà hàng, nghĩa sĩ Lục Lâm ở địa phương cũng kéo nhau khởi nghĩa, đầu quân cho Quan Vũ, giúp Quan Vũ gia tăng binh lực. Sử sách ghi chép, danh tiếng của Quan Vũ lúc này vô cùng vang dội, “uy chấn Hoa Hạ”.

Quân tiên phong của Quan Vũ đã tiến đến gần bổn doanh Hứa Đô của Tào Ngụy, điều này khiến cho bá chủ Trung Nguyên Tào Tháo từng vang dội một thời cũng vô cùng kinh hãi, thậm chí còn nghĩ đến việc di dời kinh đô để né tránh đòn tấn công của Quan Vũ. Lúc này có mưu sĩ kiến nghị Tào Tháo hợp tác với Tôn Quyền, để Đông Ngô ra mặt tấn công Quan Vũ từ phía sau, nhằm hóa giải mối nguy của Hứa Đô. Thế là, cục diện của Tam Quốc trong chốc lát biến thành Tào Tôn liên minh; Đông Ngô phái Lã Mông, Lục Tốn tập kích Công An và Giang Lăng, bởi vì tướng lĩnh thủ thành có hiềm khích với Quan Vũ nên không chiến mà hàng. Nửa trận sau của trận chiến này, tình hình chiến sự của Quan Vũ diễn biến theo chiều hướng đi xuống, không ngờ lại trở thành bước ngoặt trong cuộc đời ông.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là id13048054-sanguozhi-guanyu4-450x637-1.png
“Quan Vân Trường uy chấn Hoa Hạ” trong “Hình ảnh Tam Quốc Chí” (Phạm vi công cộng)

Các danh tướng của địch quốc lũ lượt ra trận, tướng thủ thành của nhà mình thì lâm trận đầu hàng, dưới áp lực từ hai bên trong và ngoài, trong doanh trại của Quan Vũ lòng dân hoang mang, binh lính bại trận bỏ chạy tán loạn, bản thân Quan Vũ bỏ chạy về Mạch Thành, cuối cùng bị bắt sống và giết hại. ‘Chiến thần Hoa Hạ’ một thời đã từng lan tỏa ánh sáng rực rỡ nhất, nào ngờ hào quang đó dần dần biến mất, khiến người ta tiếc nuối không thôi. Trích dẫn lời nói trước lúc chết của Hạng Vũ: “Đây là Trời muốn diệt ta, chứ không phải do ta dụng binh sai lầm”. Từ quá trình chiến tranh cho thấy, trong thành công của Quan Vũ cũng có nhân tố được Trời trợ giúp, vậy thì thất bại của Quan Vũ, có lẽ cũng là ý Trời.

Sau khi Quan Vũ chết, Tôn Quyền đem thủ cấp của Quan Vũ đưa đến chỗ Tào Tháo, Tào Tháo an táng Quan Vũ tại Lạc Dương với nghi lễ an táng dành cho chư hầu vô cùng long trọng, Tôn Quyền cũng dùng nghi lễ an táng dành cho chư hầu để an táng thi thể của Quan Vũ. Hai vị hùng chủ đều áp dụng lễ ngộ cao nhất dành cho danh tướng từng là kẻ địch của mình. Còn tiên chủ Lưu Bị của Thục Hán thì lại lấy danh nghĩa báo thù cho Quan Vũ, đích thân chinh phạt Đông Ngô, đoạt lại Kinh Châu, mở đầu cho hàng loạt câu chuyện quan trọng vào cuối thời kỳ Tam Quốc…

Mấy chục năm sau, khi hậu chủ Lưu Thiện truy phong các vị công thần nguyên lão, đã truy phong thụy hiệu cho Quan Vũ là “Tráng Mậu Hầu”. Dân gian nói Quan Vũ là: “Đầu gối Lạc Dương, thân nằm Đương Dương, hồn về cố hương”, từ ngữ truy điệu thê lương bi tráng, tưởng niệm vô hạn. Bá tánh sùng bái võ công của Quan Vũ, kính ngưỡng đại nghĩa của Quan Vũ, nên gọi Quan Vũ là “Võ Thánh Nhân” và lập điện bái tế.

Kết cục của Quan Vũ khiến người ta vô cùng thương tiếc, nhưng chúng ta cũng không cần lấy thành công và thất bại để luận anh hùng. Quan Vũ dựa vào duy nhất sức lực của mình, tấn công Tương – Phàn, đối kháng hai địch quốc lớn. Tào Tháo vì ông mà dự định di dời kinh đô để lánh nạn, Tôn Quyền vì ông mà chuyển đổi chiến lược ngoại giao, rất nhiều danh tướng đều trở thành bại tướng dưới tay ông, anh hùng hào kiệt các nơi đều tranh nhau quy thuận ông. Tiếng thơm “uy chấn Hoa Hạ” của Quan Vũ thực sự là tên đúng với người, cho dù nói ông là đệ nhất võ tướng trong thời kỳ Tam Quốc thì cũng không phải quá. Hơn nữa quan trọng nhất là Quan Vũ ‘Bắc phạt’ là hành động vì sự nghiệp xưng đế của Lưu Bị, vì lý tưởng phục hưng Hán thất của mình, và đây cũng là một sự thể hiện cho lòng trung nghĩa không hối hận của vị hùng tướng bất hủ trong lịch sử này.

>> Xem trọn bộ Trung Nghĩa Truyện

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Video: Câu chuyện nhà tâm linh phương Đông và cuộc hành trình tìm kiếm kì lạ

videoinfo__video3.dkn.tv||2fc53753a__

Ad will display in 09 seconds