Tình bất tri sở khởi, cố nhất vãng nhi thâm“.

(Tạm dịch: Tình cảm không biết bắt đầu từ khi nào, chỉ hướng về một người mà yêu say đắm.)

Ca từ trong Mẫu Đơn Đình đi vào lòng người. Lý giải của nhân loại hiện đại đối với những câu chuyện ái tình, có là đa phần đều có liên quan tới hoa tươi và nhẫn kim cương; Đối với tình yêu của cổ nhân xưa, trong tưởng tượng của chúng ta có lẽ là tình yêu sâu đậm, mạnh mẽ giữa tài tử và giai nhân. Loại tình yêu mà người hiện đại chúng ta lý giải, có phải thực sự tất cả đều là tình cảm tốt đẹp? Tình cảm giữa người với người, có mặt nào tốt đẹp hơn hay không? Hôm nay, hãy cùng tìm hiểu một câu chuyện tình cảm khác biệt thông qua tác phẩm kinh điển quen thuộc – Hồng Lâu Mộng. 

Hồng Lâu Mộng là áng văn khổng lồ phong phú, tựa hồ có thể truyền tải, miêu tả tất cả những thăng trầm, buồn vui trong kiếp nhân sinh. Độc giả trong quá trình đọc và thưởng thức tác phẩm, thường nhìn thấy bản thân mình ở một phương diện nào đó: Nhìn thấy tâm lý không muốn trưởng thành của bản thân qua nhân vật Giả Bảo Ngọc; nhìn thấy nội tâm của một đứa trẻ bị tổn thương sâu sắc trong hình ảnh của Lâm Đại Ngọc; cũng thường khao khát có được một tình yêu sâu đậm, thấu hiểu lẫn nhau như Đại Ngọc và Bảo Ngọc… Tuy nhiên, những loại giá trị quan đó liệu có khiến chúng ta bỏ qua những phần cảm động lòng người hơn của một trong những tứ đại danh tác?

Trong chương đầu tiên của Hồng Lâu Mộng, có kể lại câu chuyện kỳ lạ. “Việc này nói ra thì buồn cười lắm. Thật là câu chuyện nghìn xưa ít thấy. Chỉ vì bên bờ sông Linh Bà ở Tây phương, bên cạnh hòn đá Tam Sinh có một cây Giáng Châu được Thần Anh làm chức chầu chực ở cung Xích Hà ngày ngày lấy nước cam lộ tưới bón cho nó mới tươi tốt sống lâu. Đã hấp thụ tinh hoa của trời đất, lại được nước cam lộ chăm bón, cây Giáng Châu thoát được hình cây, hóa thành hình người, tu luyện thành người con gái, suốt ngày rong chơi ngoài cõi trời Ly Hận đói thì ăn quả “Mật Thanh” khát thì uống nước bể “quán sầu”.

Chỉ vì chưa trả được ơn bón tưới, cho nên trong lòng nó vẫn mắc míu, khi nào cũng cảm thấy như còn vương một mối tình gì đây. Gần đây, Thần Anh bị lửa trần rực cháy trong lòng, nhân gặp trời đất thái bình thịnh vượng muốn xuống cõi trần để qua kiếp “ảo duyên”, nên đã đến trước mặt vị tiên Cảnh ảo ghi sổ. Cảnh ảo liền hỏi đến mối tình bón tưới, biết chưa trả xong, muốn nhân đó để kết liễu câu chuyện. Nàng Giáng Châu nói: “Chàng ra ơn mưa móc mà ta không có nước để trả lại. Chàng đã xuống trần làm người, ta cũng phải đi theo. Ta lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại chàng, như thế mới trang trải xong!”. Vì thế dẫn ra bao nhiêu oan gia phong lưu đều phải xuống trần, để kết liễu án đó.

– Việc này lạ thật! Xưa nay chưa từng nghe thấy chuyện trả nợ bằng nước mắt bao giờ. Nghĩ lại chuyện này thật phiền phức, tế nhị hơn các chuyện trăng gió trước kia nhiều” 

Đọc đến tình tiết này, có lẽ nhiều bạn sẽ liên tưởng đến câu chuyện tình yêu đời đời kiếp kiếp, và dường như chỉ có loại tình cảm như vậy mới là tốt đẹp nhất, hoàn hảo nhất. Cứ thế đến nỗi độc giả sơ xuất không biết rằng duyên phận của Thần Anh và giáng Châu bắt nguồn từ ân tình, chứ không phải là tình yêu như chúng ta nhìn nhận. 

Tiền kiếp của Đại Ngọc vốn là cây giáng châu tiên thảo, vì cảm động tấm ân tình này, muốn báo đáp ơn bón tưới nên mới tới nhân gian kết duyên cùng Bảo Ngọc, mà sự phát triển thực tế tình cảm của họ ở nhân gian cũng vì ân nghĩa này mà trở nên sâu nặng hơn. 

Vậy mối quan hệ của họ ở dưới nhân gian diễn ra như thế nào? Những tình tiết này được phim truyền hình hiện đại chiếu ra khiến chúng ta có thể cảm thấy, Bảo Ngọc và Đại Ngọc vì nhân duyên tiền kiếp nên không cần lý do đã yêu nhau sâu đậm từ cái nhìn đầu tiên. Vậy trong thực tế tiểu thuyết viết như thế nào:  

Trong hồi 5 sau khi Đại Ngọc tới Giả phủ, thì được ưu ái, cưng chiều hơn mọi người. Bởi Bảo Ngọc và Đại Ngọc đều được Giả Mẫu hết mực yêu thương, nên họ đều được sống cùng trong vườn “Nay nói Lâm Đại Ngọc từ khi đến phủ Vinh, được Giả mẫu thương yêu muôn phần, ăn ở đi đứng, nhất nhất đều như Bảo Ngọc, ngay Nghênh Xuân, Thám Xuân, Tích Xuân cũng không bằng. Bảo Ngọc và Đại Ngọc thì thân nhau hơn hẳn mọi người; ngày cùng chơi chung, tối cùng ngủ chung, rất là hòa thuận, thân mật như keo sơn, không hề xích mích nhau điều gì”. Đó là tình bạn gắn bó sớm chiều bên nhau. Những năm tháng bên nhau tích lũy phát triển dần trở thành tình yêu. 

Vì vậy, mối quan hệ giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc không phải là kiểu tình cảm mãnh liệt bị kích thích mà chúng ta được xem trong các bộ phim truyền hình, mà nó được hình thành với điều kiện khách quan là sớm chiều chung sống cùng nhau – tức là cái mà chúng ta thường gọi là duyên phận. Tử Quyên, nha đầu của Đại Ngọc cũng nói: “Khó được nhất chính là lớn lên cùng nhau từ khi còn nhỏ, lại biết tính tình, khí chất của nhau. “

Cảm xúc mạnh mẽ nhất thời là động lực khơi thông những dục vọng, trong khi mối quan hệ của hai người giống như dòng nước chảy nhỏ thì sẽ lâu dài. Chính vì tình cảm của họ không bị kích động và buông thả nên từng ly từng tí khoảnh khắc giữa hai người nơi nhân gian mới có sự khác biệt động lòng người:

Trong hồi 20, sau khi hai người cãi nhau vừa làm hòa, Đại Ngọc nói với Bảo Ngọc những lời ân cần hỏi han: “Xem thời tiết hôm nay, trời lạnh như thế mà anh không khoác áo bông vào?”

Trong hồi thứ 52, Bảo Ngọc đang định quay người rời đi lại quay lại hỏi thăm sức khỏe Đại Ngọc: “Bảo Ngọc xuống thềm, cúi đầu định đi, nhưng lại quay lại hỏi: – Bây giờ đêm càng dài, một đêm em ho mấy lần? Tỉnh dậy mấy lần?. Đại Ngọc nói: – Đêm qua đã đỡ rồi, chỉ ho có vài lần thôi, nhưng ngủ được có một trống canh tư, đã lại dậy rồi”.

Trong hồi 63 khi tổ chức sinh nhật tại Di Hồng Viện, Bảo Ngọc vì Đại Ngọc mà cẩn thận chuẩn bị: “Bảo Ngọc vội nói: – Em Lâm chắc sợ lạnh, sang ngồi dựa cạnh vách này. Rồi đem đến một cái nệm dựa lót vào phía sau. Bọn Tập Nhân lấy ghế ngồi tiếp ở cạnh giường”.

Đây bất quá đều là những chuyện nhỏ nhặt thường ngày, qua hàng trăm năm cũng vẫn không xa lạ với chúng ta. Ở đây không có hoa hồng cũng chẳng có nhẫn kim cương, àng không có tình cảm rầm rộ sôi nổi giữa hai người, thậm chí không được diễn tả bằng lời mà chẳng qua chỉ là ân cần quan tâm chăm sóc lẫn nhau trong gạo, củi, dầu muối. Có lẽ bạn đọc sẽ cảm nhận được, dưới ngòi bút của Tào Tuyết Cần, chân tình và dục vọng bị tách biệt. Chân tình là duyên phận thúc đẩy để đến thành công, sự mỹ hảo đẹp đẽ trong đó đến từ ân nghĩa quan tâm chăm sóc lẫn nhau, và ân nghĩa lại là thể hiện một nhân cách cao đẹp. 

Vậy nhân cách cao đẹp của Bảo Ngọc và Đại Ngọc bắt nguồn từ đâu? Đánh giá từ đầu mối quan hệ của họ – ân tình của Thần Anh thị giả và Giáng Châu tiên thảo. Giáng Châu tri ân báo đáp là một loại tinh thần trong lễ giáo của Nho gia. Vì vậy, trong tuyên truyền của giới chủ lưu coi những tình cảm chân thành của mọi người trong “Hồng Lâu Mộng” là sự chống lại lễ giáo thời phong kiến, đây là một sự hiểu lầm nghiêm trọng về tác phẩm. Hồng Lâu Mộng không phản đối lễ giáo của Nho gia như đã tuyên truyền, ngược lại trong Nho gia, giáo hóa nhân cách của con người chính là mở đầu cho tất cả.

Tấm chân tình trong Hồng Lâu Mộng không ở tại dục vọng, cũng không giới hạn trong tình yêu. Trong hồi 78 khi Bảo Ngọc tế lễ Tình Văn qua đời. Còn sáng tác ra bài “Bài văn tế cô phù dung” rung động đến tận tâm can. Bảo Ngọc cũng tuân theo lễ nghi trong văn hóa truyền thống, nói cần áo mũ chỉnh tề, xếp hàng ngay ngắn, cắt đặt mọi thứ cẩn thận chu toàn mới có thể biểu đạt được sự chân thành và tôn trọng với Tình Văn. Trước là bài tựa, sau là bài ca. Lại bày bốn thứ đồ ăn mà Tình Văn vẫn thích khi còn sống. Đến lúc chiều tà, người vắng Bảo Ngọc sai bọn a hoàn bưng đến bày ở trước hoa phù dung. Làm lễ xong, treo bài văn tế lên cành hoa, rồi khóc và đọc. Đây đều là những hành động bộc lộ tấm chân tình của Bảo Ngọc, là cách biểu đạt tình cảm tốt đẹp của cậu. 

Ngược lại, con người hiện đại chúng ta hôm nay liệu có phải vì quên đi nội hàm của lễ nghi mà không hiểu dược làm thế nào để yêu một người và được người khác yêu thương? Có nhiều người chỉ biết đòi hỏi được đáp ứng các yêu cầu của mình mà quên đi cách báo đáp. Việc nhận được đến từ tình yêu thương và thiện ý của người có duyên. Người ta thường thường vì đang có mà không biết trân quy cũng không sợ mất đi, mãi phung phí tới khi hầu như không còn gì. Sống chung giữa người với người, không thể vì thiếu đi những lễ tiết ý thức mà mất đi yêu cầu nghiêm khắc đối với bản thân. 

Kỳ thực lễ nghi truyền thống không phải tồn tại như dạng lời kim cô chú, hoặc quần áo bọc bên ngoài. Theo giáo sư Âu Lệ Quyên đến từ khoa văn đại học Đài Loan: “Lễ này cần phát xuất từ nội tâm người ta mới có thể thực hiện, thậm chí thông qua những hành vi của lễ, có thể tạo nên nội tâm của con người… lễ giáo cũng có thể giúp bạn tự kiểm soát, tự điều chỉnh, từ đó bước vào trạng thái văn mình”. Chính vì có sự hun đúc từ lễ nghi truyền thống, tình nghĩa giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc, giữa Bảo Ngọc và Tình Văn có thể tự khắc chế kiểm soát mà ôn hòa, dịu dàng. Họ không thể là đối tượng bộc lộ dục vọng của đối phương. Sự tốt đẹp trong mối quan hệ của họ, khó tìm thấy trong các tác phẩm nghệ thuật và cuộc sống hiện đại ngày nay của chúng ta. 

Người xưa thường giảng “Khắc kỷ phục lễ”, “Thâm minh lễ nghĩa” nghĩa là không để cái tôi chi phối. Lễ nghi truyền thống có thể giúp nhân tâm trở nên lương thiện, khiến đạo đức được thăng hoa, thúc đẩy tạo nên thiện duyên. Tiếc rằng điều mà trong giới chủ lưu đang tuyên truyền ngày nay thường bị sai lầm. Dù là trong giới Hồng Học, hay trong sách giáo khoa giáo dục trẻ nhỏ, đều đồng loạt giới thiệu “Hồng Lâu Mộng” hàm ý phản truyền thống, phản lễ giáo. Còn cho rằng Bảo Ngọc và Đại Ngọc là người dẫn đường. Trên thực tế, Đại Ngọc và Bảo Ngọc đều sinh ra là những công tử, và con gái nhà quyền quý của gia tộc truyền đời hàng trăm năm, từ nhỏ đã được hun đúc nuôi dưỡng trong lễ giáo, nội hàm của lễ nghi có thể hòa tan trong từng lời nói cử chỉ của họ, cũng chính sự giáo dục này khiến tình nghĩa giữa họ trở nên ấm áp. Họ sao có thể là những người đi phản đối lễ giáo truyền thống?

Có không ít người hiện nay vừa đề cập đến lễ giáo truyền thống liền cảm thấy đó là tư tưởng cổ hủ, dường như chỉ vạch rõ giới hạn giữa Hồng Lâu Mộng và lễ nghi mới có thể chứng minh sự tiên tiến và bất diệt của bộ danh tác này. Nào ngờ, những nghi thức truyền thống vẫn mang ý nghĩa tích cực của nó cho đến tận ngày nay. Mặc dù chúng ta đang sống trong xã hội hiện đại không tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc cổ xưa để tổ chức các nghi lễ, những lễ tưởng niệm những người đã khuất và tổ tiên vẫn là một cách để thể hiện cảm xúc của chúng ta. Sự tri ân và báo đáp mà đạo đức truyền thống chú trọng cũng có thể thúc đẩy mối liên kết đẹp đẽ giữa con người với nhau. Nếu tình bạn chân thành của những người trong “Hồng Lâu Mộng” khiến bạn cảm động và khiến bạn khao khát, tại sao không thử thực hiện những giáo huấn trong các tác phẩm kinh điển truyền thống đó? Có lẽ trí huệ mà tổ tiên chúng ta để lại có thể mở ra một cửa sổ mới cho cuộc đời bạn.

Theo Vision Times
Bình Nhi biên dịch