Chiêm bao đen trắng vòng danh lợi; Tỉnh giấc Hoàng lương mộng bẽ bàng…

Vạn kỷ thiên hà cõi hỗn mang
Khởi nguồn nguyên thủy tự hồng hoang
Bao lần bể rộng thành sông suối
Mấy thuở non cao hoá đất bằng.
Bóng vạc kêu sương đời quạnh quẽ;
Vầng mây theo gió kiếp thênh thang
Chiêm bao đen trắng vòng danh lợi
Tỉnh giấc Hoàng lương mộng bẽ bàng. (*)

FB. Trần Thế Nhân

Chú thích của người biên tập:

(*) Giấc mộng hoàng lương, hay “giấc mộng kê vàng” xuất phát từ một điển tích trong Chẩm Trung Ký. Năm Khai Nguyên thứ 7 Đường Huyền Tông, có một vị đạo sỹ họ Lã trên đường đi tới Hàm Đan, lúc nghỉ ở quán trọ thì gặp một vị thiếu niên tên là Lư Sinh. Sau khi hai người cười nói một hồi, Lư Sinh vì quần áo cũ bẩn nên cảm thán rằng: “Tôi mong có thể làm nên nghiệp lớn, khiến danh vọng truyền xa, hưởng thụ phú quý, khiến gia tộc họ hàng phồn thịnh, có như vậy trong lòng mới thoải mái. Đáng tiếc là tôi tuy khổ công đọc sách mà không cách nào thi cử thuận lợi, đạt công danh. Quá 30 tuổi thì đành vất vả nơi ruộng đồng”.

Nói xong, anh ta liền cảm thấy tinh thần mịt mờ và muốn ngủ. Lúc này, chủ quán trọ đang nấu nồi kê, chuẩn bị làm cơm. Lã đạo sỹ lấy từ trong túi ra một cái gối và đưa cho Lư Sinh, nói: “Anh gối đầu bằng cái này, mong mỏi của anh sẽ toại nguyện”. 

Lư sinh nghiêng đầu nằm lên gối ngủ thiếp đi, chợt thấy có ánh sáng phát ra từ cái lỗ trống bên gối, ánh sáng và khoảng trống lớn dần, anh bèn nhảy vào trong ánh sáng đó.

Lư Sinh sau đó về nhà, lấy người con gái tên Thanh Hà, không những xinh đẹp mà còn giàu có sung túc. Nhà anh ta ngày càng giàu có. Năm sau Lư Sinh thi tiến sỹ, bắt đầu con đường quan trường thuận lợi. Lư Sinh làm việc rất tận tâm, vì dân mà trừ bỏ đi lo lắng khổ sở của họ, chủ động tòng quân dẹp loạn, vì vua mà chia sẻ ưu tư. Vì thế, trăm họ lập bia đá khắc công đức, vua cũng dùng lễ mà đối đãi, nhớ công đức mà ban thưởng. Nhưng không ngờ, Lư Sinh bị quan Tể tướng đương triều đố kỵ, nên bị cách chức, chuyển qua làm Thứ sử ở Đoan Châu. Ba năm sau, anh lại quay lại triều đình, không những đảm nhiệm chức Thượng thư Bộ hộ mà còn thăng tới chức Tể tướng, thành trọng thần lo việc triều chính trong 10 năm, được nhìn nhận như hiền tướng. 

Nhưng tai họa lại ập đến. Lư Sinh bị vu vào tội cấu kết với quân tạo phản biên giới. Quan binh phụng chỉ tróc nã đi đến dinh phủ Lư Sinh. Lúc đó, anh ta khóc rồi nói với vợ mình rằng: “Nhà ta gốc ở Sơn Đông, có ít ruộng tốt, cũng đủ qua ngày giá lạnh, vì cớ gì khổ sở cầu công danh lợi lộc. Bây giờ chìm nổi như này, nhớ trước kia mặc áo lông cừu ngắn, cưỡi ngựa đi Hàm Đan, trên đường xem phong cảnh. Bây giờ chẳng thể được nữa rồi”.

Lư Sinh rút kiếm ra tự sát, nhưng bị vợ ngăn lại. Trong vụ án này, các quan lại có dính dấp đều bị giết, chỉ có Lư Sinh được người che chở, chỉ bị giáng chức tới Hoan Châu. Sau vài năm, vua biết bị oan, lại đem về thăng lên Lệnh Trung Thư, phong làm Triệu Quốc Công, ban thưởng cho rất hậu, Lư Sinh vinh quang tột cùng.

Phúc đức của Lư Sinh còn truyền đến con cháu. Anh có 5 người con đều làm quan, và lấy vợ là con cái nhà danh gia vọng tộc. Lư Sinh có thêm 10 đứa cháu.

Vậy là sau 30 năm, Lư Sinh hai lần trải qua giáng chức rồi thăng chức. Anh đã hưởng quan cao lộc lớn, phú quý vinh hoa không sao kể hết. Về già, Lư Sinh bị bệnh, tuy có danh y đến cửa hiến tặng thuốc quý rất nhiều, nhưng cuối cùng cũng không qua khỏi…

Lư Sinh duỗi chân dãn lưng mà tỉnh lại, anh phát hiện mình vẫn đang ngủ ở khách sạn. Lã đạo sỹ đang ở bên cạnh, còn ông chủ khách sạn đang nấu nồi kê chưa kịp chín, còn nghi ngút khói. Lư Sinh kinh hoảng nói: “Thế nào mà tất cả chỉ là một giấc mộng đã qua vậy?”. Lã đạo sỹ cười nói: “Nhân gian thế sự, đều chỉ như thế”. Lư Sinh nghe rồi buồn bã như đã đánh mất điều gì. Anh ta cảm tạ Lã đạo sỹ, nói: “Người trong đời, phú quý, vinh nhục, sống chết rồi đến vận mệnh đều như vậy cả. Tiên sinh đã ngăn những dục niệm của tôi, tôi lẽ nào dám không tiếp nhận bài học”. Lư Sinh bái lạy ba lần cảm tạ rồi sau đó rời đi. Từ đó về sau, không còn bận tâm về công danh phú quý nữa.