Lúc này trên đỉnh núi Tung Sơn cách xa bụi trần ồn ào chính là Tiên cảnh nhân gian, non xanh nước biếc, chim hót nơi rừng cây, hoa cỏ đua nhau khoe sắc. Các tăng sĩ của Thiếu Lâm Tự hòa tâm mình vào với thiên nhiên, ngày đêm tu tâm dưỡng tính, xuân thu khất thực, tham thiền…

Lại nói, Thiếu Lâm Tự được xây dựng vào thời Bắc Ngụy, trải qua tháng năm dài đã từng bước chứng kiến sự hưng suy của các triều đại, đặc biệt là thời kỳ phồn thịnh và giàu có của nhà Tùy và nhà Đường. Ánh sáng huy hoàng chói lọi phản chiếu hoài bão lớn của các bậc đế vương, thừa tướng, tướng soái và các học sĩ nổi tiếng.

Hình ảnh những tăng nhân, cư sĩ hành thiền yên tĩnh dưới vầng trăng, không gian trầm mặc xen lẫn tiếng chuông chùa, như mây trôi nước chảy nơi xa, vừa uyển chuyển mà lại mờ ảo, tất cả những điều này cũng dần dần được lan tỏa trong tâm thức của những bá tánh bình dân thuộc triều đại nhà Tùy và nhà Đường.

Lúc này trên đỉnh núi Tung Sơn cách xa bụi trần ồn ào chính là Tiên cảnh nhân gian, non xanh nước biếc, chim hót nơi rừng cây, hoa cỏ đua nhau khoe sắc. Các tăng sĩ của Thiếu Lâm Tự hòa tâm mình vào với thiên nhiên, ngày đêm tu tâm dưỡng tính, xuân thu khất thực, tham thiền… cuộc đời nhẹ nhàng thản đãng tựa chiếc thuyền trôi, phong thái vượt ngoài thế gian tục sự, hòa nhập tâm mình với núi rừng hoang dã rộng lớn mênh mông.

Sùng Phật kính Đạo, quốc gia hưng thịnh an vui

Nhà Tùy trải qua hai đời, tổng cộng 37 năm, tuy rằng vận mệnh quốc gia ngắn ngủi, nhưng hoàng đế của hai đời đều phát triển Phật pháp, tuyên trường hoành Đạo. Khi Tùy Văn Đế – Dương Kiên mới lên ngôi, đã có Sa môn mang theo hơn hai trăm bộ kinh bằng tiếng Phạn ở Tây Vực đến bái kiến nhà vua, Tùy Văn Đế liền ra lệnh cho quan địa phương tìm kiếm người phiên dịch kinh. Năm Khai Hoàng thứ hai, Tùy Văn Đế lại hạ chiếu chỉ xây dựng kinh đô mới, lấy tên là “Đại Hưng”.

Tùy Văn Đế cai trị thiên hạ trong 24 năm, chuyên cần yêu dân, Phần lớn các mệnh lệnh chính trị được thi hành đều liên quan đến dân sinh và xã tắc, bởi vì quan trên làm gương cho dân noi theo, vì vậy mà tác phong của quốc gia cũng có sự thay đổi lớn.

Tùy Văn Đế qua nét vẽ của Diêm Lập Bản, họa sĩ đời nhà Đường (Nguồn: Wikipedia)

Cũng bởi Tùy Văn Đế sùng Phật kính Đạo, cho nên Phật giáo được chấn hưng mạnh mẽ, lòng nhân từ được lan rộng khắp lãnh thổ nước Tùy.

Tùy Văn Đế sùng bái Phật giáo, triều đình thịnh hành tín ngưỡng Phật giáo. Nhà vua sai người điêu khắc tượng Phật, đúc tượng Phật và vẽ tranh Phật, làm gì cũng bằng tâm thành kính, ông còn đích thân dẫn dắt mọi người đi chiêm bái tượng Phật.

Trong quốc thổ Đại Tùy, chùa chiền bảo tháp mọc lên như cây trong rừng, nguy nga tráng lệ, các tín đồ đi lễ Phật nhiều vô số kể. Các tăng và ni xuất gia tu hành vào thời bấy giờ lên đến 300 ngàn người. Khắp nơi xây chùa xây tháp, đúc tạc tượng Phật, chép kinh Phật, cơn gió tín ngưỡng sâu sắc đã thổi vào triều đại Khai Hoàng.

Tăng trung chi long, Tịnh Ảnh Huệ Viễn

Vào những năm của nhà Tùy, chủ trì của Thiếu Lâm Tự là Huệ Viễn, ông được hai triều đại nhà Tề và nhà Tùy gọi là “Tăng trung chi long” (con rồng trong số các tăng sĩ). Nghe nói, Huệ Viễn sinh ra đã có duyên với nhà Phật. Khi Huệ Viễn 3 tuổi, mỗi lần nhìn thấy có tăng sĩ đi khất thực hóa duyên ở ngoài đường, Huệ Viễn đều chắp tay lễ bái một cách thành kính. Khi còn là một cậu bé nhỏ tuổi, Huệ Viễn đã suốt ngày đòi đi chùa.

Cha của Huệ Viễn mất sớm, mẹ và chú của cậu thường hay dỗ ngọt cậu, mong rằng Huệ Viễn sẽ hồi tâm chuyển ý. Cứ như vậy cũng miễn cưỡng được 3 năm. Đến khi Huệ Viễn lên 6 tuổi, lại đòi đi chùa lần nữa, nếu lần này không được đi thì sẽ bỏ ăn bỏ uống. Mẹ Huệ Viễn nhìn thấy cậu suốt ngày ngồi thẫn thờ buồn rầu, cuối cùng đành phải đưa cậu đến chùa. Cậu bé thích xuất gia này, bẩm sinh đã có duyên với nhà Phật, vừa bước vào chùa là khuôn mặt rạng rỡ, không còn diện mạo buồn rầu nữa. Chỉ vì lúc ấy cậu còn quá nhỏ, nên các tăng sĩ trong chùa chỉ dạy cậu học chữ, niệm Phật và học kinh điển Phật, mà không làm lễ xuất gia cho cậu.

Vị sư phụ đầu tiên của Huệ Viễn là Đàm Thủy. Đàm Thủy không chỉ có đạo hạnh cao mà võ công cũng rất thâm hậu. Ông thấy Huệ Viễn có tư chất thông minh, ngộ tính rất tốt, vì thế trong lúc dạy cậu học kinh điển Phật, cũng đồng thời truyền thụ võ công cho cậu. Khi Huệ Viễn 13 tuổi, Đàm Thủy chính thức cạo đầu cho cậu. Huệ Viễn cuối cùng cũng được như mong ước, trở thành một tiểu Sa di thực sự.

Năm Tuyên Chính thứ nhất (năm 578), Chu Vũ Đế triệu tập 500 tăng sĩ vào trong hoàng cung, chuẩn bị hạ chiếu chỉ phế bỏ Phật giáo. Ở trên đại điện, đối mặt với những thị vệ hoàng cung tay cầm đao với thương, trên người mặc áo giáp sắt, mà Huệ Viễn không chút sợ hãi, kháng lại chiếu chỉ ngay trên đại điện, biện luận với Chu Vũ Đế,  Huệ Viễn liệt kê và giải thích những lợi ích mà Phật giáo mang lại trong việc giáo hóa quốc gia. Tăng chúng sợ đến toát mồ hôi lạnh, mọi người đều lo sợ cậu gặp chuyện không may, tất cả im lặng không dám lên tiếng.

Trong cuộc biện luận kịch liệt này, Chu Vũ Đế đuối lý không thể nói được gì, bỏ cuộc nửa chừng. Huệ Viễn cùng tăng chúng đi ra khỏi hoàng cung, cậu nói với mọi người rằng: “Hiện nay thời vận không hòa hợp, sức của một người khó mà xoay chuyển”. Cậu hy vọng mọi người không nên vì lần pháp nạn này mà bi thương chán nản.

Chu Vũ Đế một mực làm theo ý mình, tiêu diệt cả Phật giáo và Đạo giáo. Các tự viện trong thiên hạ đều bị phá bỏ, tăng sĩ ly tán khắp nơi, Thiếu Lâm Tự cũng không ngoại lệ. Ba năm sau, Chu Vũ Đế đột tử, Chu Tĩnh Đế – Vũ Văn Xiển lên ngôi, ông hạ chiếu chỉ phục hưng Phật giáo và Đạo giáo, những tăng sĩ đi lang thang khắp nơi dần dần quay trở về tự viện của mình. Huệ Viễn đi đến Tung Sơn xa xôi, sống ở Thiếu Lâm Tự. Xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo đối với ơn nghĩa của cha mẹ, nên Chu Tĩnh Đế đã đổi tên Thiếu Lâm Tự thành “Trắc Hỗ Tự”. “Trắc Hỗ” đồng âm với từ “chí hộ” (bảo vệ), nghĩa đen là leo lên ngọn núi mọc đầy cây cỏ, nghĩa mở rộng là nói về nỗi nhớ đối với người thân ở phương xa.

Trong những năm Khai Hoàng, Tùy Văn Đề đổi lại tên Trắc Hỗ Tử về tên ban đầu là “Thiếu Lâm Tự”, và ban thưởng cho Thiếu Lâm Tự 100 khoảnh đất, làm nơi phụng dưỡng của cửa Phật.

Năm Khai Hoàng thứ 3 (năm 583), Tùy Văn Đế xây Tịnh Ảnh Tự cho Huệ Viễn, nên còn được người đời sau gọi là Tịnh Ảnh Tự Huệ Viễn, Tịnh Ảnh Huệ Viễn. Huệ Viễn cùng với Thiên Đài Trí Nghĩ đại sư, Gia Tường Cát Tạng đại sư được gọi là ba vị đại sư của nhà Đường.

Năm Khai Hoàng thứ 7 (năm 587), Huệ Viễn được chọn làm người đứng đầu trong sáu vị đại đức, đi vào kinh thành, nhận lệnh của Tùy Văn Đế, cai quản toàn bộ tăng sĩ trong thiên hạ.

Thiếu Lâm võ tăng vượt thành báo quốc

Sở dĩ Thiếu Lâm Tự có thể đứng vững trong thiên hạ, danh tiếng vang xa là có liên quan đến việc Đường Thái Tông Lý Thế Dân hộ trì Phật pháp. Đường Thái Tông từng nói rằng, bản thân mình là hóa thân của Kim Luân Thánh Vương, sinh ra trong gia đình đế vương là để bố thí ân huệ cho thiên hạ, phổ độ chúng sinh. Thái Tông cho rằng, cứu thế độ nhân cũng là một cách để lĩnh ngộ Phật pháp.

Năm Đường Vũ Đức thứ 2 (năm 619), tướng lĩnh Vương Thế Sung của nhà Tùy tự mình xưng đế tại Lạc Dương, lấy hiệu là “Trịnh Quốc” (nước Trịnh). Cháu trai của Vương Thế Sung là Vương Nhân Tắc chiếm cứ vùngg đất Bách Hộc Ô của Thiếu Lâm Tự để xây thành Viên Châu. Khi Tần Vương Lý Thế Dân (Lý Thế Dân khi đó chưa lên làm vua, chỉ là một vương gia) đưa quân đi chinh phạt Vương Thế Sung, hơn ba mươi tăng sĩ của Thiếu Lâm Tự gồm thượng tọa Thiện Hộ, chủ trì Chí Thao, Đàm Tông, Trí Hưng v..v… đã phối hợp với đám người của Triệu Hiếu Tể ở trong và ngoài thành Viên Châu để nội ứng ngoại hợp với quân Đường, giành lại được thành Viên Châu, đám người của Đàm Tông bắt sống được Vương Nhân Tắc, mang về giao nộp cho Lý Thế Dân.

Tần Vương Lý Thế Dân phái Lý An Viễn mang theo văn thư “Cáo Bách Cốc Ô Thiếu Lâm Tự Thượng Tọa Thư” của Tần Vương đi đến Thiếu Lâm Tự để khen thưởng và tuyên dương, Đàm Tông được phong làm đại tướng quân. Các võ tăng (tăng sĩ biết võ) của Thiếu Lâm Tự lập chí hướng xuất gia tu hành, không muốn gia nhập triều đình làm quan, Đường Thái Tông ban tặng hàng ngàn tấm vải lụa, 40 khoảnh ruộng màu mỡ, cối xay nước, v.v.. cho Thiếu Lâm Tự, triều đình còn bỏ tiền để thiết lập quân doanh cho 500 tăng binh và tư nhân, dùng để tự vệ. Bởi vì tập luyện võ công sẽ hao tổn thể lực, nên Đường Thái Tông còn đặc biệt cho phép các võ tăng của Thiếu Lâm ăn thịt. Dưới sự nâng đỡ của Đường Thái Tông, Thiếu Lâm Tự mới phát triển rực rỡ. Võ tăng của Thiếu Lâm Tự vượt thành báo quốc, từ đó vang danh thiên hạ.

Bích họa 13 tăng sĩ bảo hộ Tần Vương bên trong Thiên Phật Điện của Thiếu Lâm Tự trên núi Tung Sơn, Hà Nam (ảnh: Phạm vi công cộng).

Tam đế quốc sư, đại hành thiền pháp

Sau khi triều đại Trinh Quán kết thúc, Đường Cao Tông – Lý Trị lên nối ngôi. Vào tháng 10 năm Hàm Hanh thứ 3 (năm 672), Đường Cao Tông cùng Võ Tắc Thiên đi đến Thiếu Lâm Tự, dâng tặng tượng Phật và những lá cờ cầu nguyện. Đường Cao Tông viết bi ngạch của “Bia Bát Nhã”, Vương Trí Kính viết bi văn, khắc lên bia đá. (Bi ngạch là tên của một tấm bia, thường được viết ở phía trên cùng, phần nội dung viết trên tấm bia gọi là bi văn).

Võ Tắc Thiên vì muốn siêu độ nghiệp chướng nặng nề cho người mẹ quá cố của mình là Dương Thị, nên phái người ban tặng tiền vàng, vải vóc và những vật phẩm khác, và xây tháp Phật Di Lặc 10 tầng, hy vọng có thể sớm ngày siêu độ cho mẹ mình. Sau khi Đường Thái Tông qua đời, Võ hậu đích thân đến Thiếu Lâm Tự lần nữa để cầu phúc cho Đường Thái Tông.

Năm Vạn Tuế Thông Thiên thứ nhất (năm 696), Võ hậu triệu thỉnh hai vị cao tăng là Thần Tú của Thiếu Lâm và Huệ An của Tung Sơn vào kinh thành, đặc biệt ban cho ngồi kiệu vào đại điện. Võ Tắc Thiên đích thân quỳ xuống lễ bái, sắp xếp cho họ ở lại trong cung, để thuận tiện cho việc sớm tối vấn đạo. Các vương công quý tộc khi đó lũ lượt kéo đến hoàng cung, lễ bái hai vị cao tăng.

Thần Tú ở trong kinh thành giảng dạy phương pháp thiền, nổi tiếng khắp nơi, ông may mắn được trở thành quốc sư của Võ Tắc Thiên, Đường Trung Tông, Đường Duệ Tông, vì vậy người đời gọi Thần Tú là “Tam đế quốc sư” (quốc sư của ba vị hoàng đế).

Thần Tú làm quốc sư cho ba vị hoàng đế nên có thân phận cao quý, tuy rằng không có duyên với y bát của Thiền Tông nhưng lại là người khoan dung nhân hậu. Năm xưa, sư phụ của Thiền Tú là Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đem y bát truyền lại cho lục tổ Huệ Năng, dẫn đến một trận hỗn loạn tranh giành y bát. Lục tổ Huệ Năng không biết chữ, nhưng tư chất lại cực kỳ thông minh, nghe được Phật pháp là có thể lĩnh ngộ ý nghĩa bên trong, vì vậy Ngũ tổ Hoằng Nhẫn chọn Huệ Năng làm người thừa kế y bát, sau đó Huệ Năng trở thành lục tổ của Thiền Tông. Đệ tử của Thần Tú cho rằng Huệ Năng không biết chữ, thường xuyên cười nhạo Huệ Năng. Thần Tú nói: “Huệ Năng không thầy mà tự hiểu, lĩnh ngộ trước tiên, ta đương nhiên không bằng ông ấy”. Thần Tú khuyên các đệ tử của mình đi đến Thiếu Lâm Tự tham thiền ngộ đạo, hàng phục tà kiến sân si, không nên lãng phí thời gian vô ích. Có thể thấy Thần Tú là một người vô cùng độ lượng.

Học sĩ danh tiếng kính ngưỡng Tung Sơn

Nhà Đường xuất hiện rất nhiều nhân tài, họ sáng tác ra vô số những tác phẩm thơ văn kiệt xuất. Dưới sự ảnh hưởng bởi tín ngưỡng của cả nước thời bấy giờ, các nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Sầm Tham, Vi Ứng Vật đều thể hiện lòng kính trọng và ngưỡng mộ của mình đối với Tung Sơn, đối với Thiếu Lâm Tự qua các tác phẩm của mình

Dưới ngòi bút của Lý Bạch, núi Tung Sơn trở nên cao chót vót trên bầu trời, cây cỏ hoa lá ẩn hiện trong khói lam tím. Mỗi khi ánh trăng nhô lên cao, gió thổi rừng thông lay động, dưới cảnh sắc đêm khuya, tiếng đàn lơ lửng trôi đi, các Tiên nữ của Thiên cung dường như đang nhảy múa. “La nguyệt trải triều kính, tùng phong minh hạ huyền” (Trăng treo sáng như gương, gió thông reo tiếng cầm). Đọc thơ của Lý Bạch, chúng ta không khó để liên tưởng đến hình ảnh các ẩn sĩ tu hành trên núi Tung Sơn vào rừng lấy quế thơm, hái cỏ thơm, chìm đắm trong tiên cảnh thanh vắng, trạng thái tinh thần xuất thế đó tiêu diêu tự tại biết bao. Đại đạo nằm ở trong tâm, những thứ huyên náo của hồng trần khó mà lây nhiễm được, những suy nghĩ trong lòng như những bước chân dài rộng, du ngoạn trên bầu trời rộng lớn, khiến người ta nghĩ tưởng liên miên.

Bạch Cư Dị du ngoạn Thiếu Lâm, để lại lời cảm thán “Thủy tri giá hạc thừa vân ngoại, biệt hữu tiêu diêu địa thượng tiên” (Giờ mới biết ngoài cưỡi hạc đi mây, còn có Tiên nhân tiêu diêu mặt đất”. Vi Ứng Vật du ngoạn Thiếu Lâm, nghe thấy tiếng chuông của tự viện, liền viết rằng “Minh chung sinh đạo tâm, mộ hạc không vân yên” (Chuông vang sinh đạo tâm, hạc chiều mây khói bay). Sầm Tham du ngoạn Thiếu Lâm, tâm cảnh bình thản an yên tan hòa vào núi sông, ung dung nói rằng: “Huống bổn vô hoạn tình, thệ tương y đạo phong” (Vốn chẳng muốn làm quan, thề sống theo lối Đạo”.

Vào thời kỳ hưng thịnh của nhà Tùy và Đường, sự phồn hoa giàu có cùng với tác phong quốc gia yên bình tự do. Bất luận là vương hầu tể tướng, hay là tài tử hiệp khách, tất cả đều được bao trùm bởi phẩm chất đạo đức thanh cao, vô cùng thuần khiết và nồng hậu. Trong lòng mỗi người dường như đều có một ‘thế ngoại đào viên’. Thế nhân cũng trải nghiệm được cuộc sống thanh tĩnh bình yên “Đi đến cuối dòng nước, ngồi nhìn mây nổi lên”, hướng đến sự thanh tao nhàn nhã “Trăng chiếu giữa rừng thông, suối trong chảy trên đá”. Đế vương hộ trì, dân thường tôn sùng, chính là tác phong kính Thiên mộ Đạo của nhà Tùy và nhà Đường, để sự sáng chói và huy hoàng mãi trường tồn trong lịch sử.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Tin liên quan:

videoinfo__video3.dkn.tv||c90b7fa55__

Ad will display in 09 seconds