Nhà Tống sau khi trải qua giai đoạn phồn hoa, đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ suy yếu. Lúc này, Thiên mệnh chuyển hướng sang tộc người Nữ Chân, Thiếu Lâm Tự cũng theo đó mà nghênh đón chủ nhân mới của đất nước…

Trên mảnh đất Thần Châu, mọc ra một loại hoa hồng liệu (tên tiếng Việt là rau răm nước, nghể răm, hoặc nghể bà…) cổ xưa. Mỗi khi mùa thu đến, trăm hoa khô héo, nhưng lại là thời điểm mà hồng liệu sinh sôi nảy nở. Bởi vì hồng liệu mọc ở những chỗ có nước, và những chùm hoa và cánh lá mọc ra trông giống hình con rồng, cho nên còn được gọi là “du long”. Hồng liệu trăng mờ, cây xanh khói nhẹ. Khi mọi âm thanh đều trở nên tĩnh lặng, một mình mọc bên bến sông, đó chính là thời khắc mà cơn gió của thiền thổi qua.

Nhà Tống trải qua giai đoạn phồn hoa, đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ suy yếu. Lúc này, Thiên mệnh chuyển hướng sang tộc người Nữ Chân, Thiếu Lâm Tự cũng theo đó mà nghênh đón chủ nhân mới của đất nước. Kim Chương Tông sáng lập ra “Minh Xương chi trị” từng tôn xưng một vị tăng nhân là “hoa hồng liệu”. Sau chiến tranh giữa nhà Tống và nhà Kim, Thiếu Lâm rơi vào tình trạng suy tàn. Chính là nhờ có du long của nước Kim mà Thiếu Lâm mới có thể trùng hưng trở lại.

Dựa theo chế độ nhà Hán, thiết lập Minh Xương

Năm 1115, một người Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt sáng lập nhà Kim, trở thành Kim Thái Tổ. Khi lên xưng đế, Hoàn Nhan A Cốt nói với các thần tử của mình rằng: “Sắt thép tuy rằng cứng rắn, nhưng cũng sẽ bị mòn và biến hoại, chỉ có vàng thật là không biến hoại”. Thế là ông lấy “Đại Kim” là quốc hiệu, hy vọng vương triều do mình sáng lập sẽ mãi mãi kiên cố, không bao giờ biến hoại.

Chân dung Hoàn Nhan A Cốt, được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Kim Thượng ở Cáp Nhĩ Tân (Nguồn: Wikipedia)

Kim Thái Tổ, Kim Hy Tông, Hải Lăng Vương, Kim Thế Tông và Kim Chương Tông đều rất sùng bái văn minh của nhà Hán. Sau này Kim Thế Tông Hoàn Nhan Ung được gọi là “Tiểu Nghiêu Thuấn”. Kim Thế Tông ngưỡng mộ tác phong chất phác và cần kiệm của nhà Hán, bắt chước “Hiếu văn bổn ký” ca ngợi Nghiêu Thuấn. Ông lấy Đường Thái Tông làm gương, ra lệnh cho văn võ bá quan thẳng thắn bẩm tấu, tuyệt đối không được che đậy lỗi lầm của hoàng đế. Ông từng nói: Đế vương một ngày bận trăm công nghìn việc, sao có thể không phạm phải lỗi lầm? Nhưng một khi có lỗi thì nhất định phải sửa.

Để giúp cho người Nữ Chân hiểu được nhân nghĩa đạo đức, Kim Thế Tông trọng dụng Hán quan, ra lệnh phiên dịch các sử sách kinh điển của nhà Hán, và dựa theo chế độ của nhà Đường và nhà Tống, đổi mới pháp lệnh, chế độ lễ nhạc và văn vật, vì vậy mà học vấn của nhà Kim phát triển mạnh mẽ.

Sau khi Kim Chương Tông Hoàn Nhan Cảnh kế vị, nhờ có Kim Thế Tông trị vì trước đó, đất nước đã được yên bình và hưng thịnh, Kim Thế Tông bắt chước nhà Hán, sửa đổi chế độ lễ nhạc, xây đền thờ Khổng Tử, chấn hưng Thái Học… vì thế đến triều đại của Kim Chương Tông, văn chương học thức và văn hóa xã hội đều trở nên sáng chói rực rỡ. Và cũng bắt đầu từ Kim Chương Tông, nhà Kim bắt đầu bái tế Tam Hoàng Ngũ Đế, Đại Thuấn, Thành Thang, Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương để thể hiện rằng những cái mà nhà Kim kế thừa đều là thuộc về nhà Hán chính thống. Đến giai đoạn này, nước Kim đạt được Hán hóa đến đỉnh cao.

Hoằng dương chân lý, giải cứu đau khổ

Trong quá trình Hán hóa của nhà Kim, hoàng thân quốc thích đều rất kính trọng Phật giáo. Kim Thái Tông thường cung phụng tượng Thần trong cấm cung, ông còn đích thân nghênh đón tượng Phật, đem tượng Phật đặt tại Mẫn Trung Tự ở Yến Kinh. Đối với những người trong nhà Phật, các quan viên quyền quý như Thừa tướng A Bất Sa, Phò mã Bồ Sát, Phiêu kỵ tướng quân v.v. đều đối đãi lễ nghi và tôn kính.

Sau khi Bắc Tống diệt vong, nước Kim và triều đình Nam Tống đối kháng trường kỳ tại vùng Lạc Dương. Quan nguyên soái của nước Kim trấn thủ tại kinh đô Lạc Dương, ông ngưỡng mộ phong thái của Thiền tông, nhiều lần sai người đi mời thiền sư Pháp Hòa – Pháp Hòa có đạo hiệu là “Vô Tích am chủ”, “Thiện Ứng Đạo nhân”. Vào khoảng năm Thiên Quyến thứ 3 (năm 1140), thiền sư Pháp Hòa nhận lời mời của Quan nguyên soái, đến làm trụ trì Thiếu Lâm Tự, trở thành vị trụ trì đầu tiên của Thiếu Lâm nước Kim.

Thiền sư Pháp Hòa truyền dạy rộng rãi trí tuệ nhà Phật, rộng lượng và đối tốt với các tăng sĩ và đại chúng, danh tiếng của thiền sư nhanh chóng được truyền đi khắp thiên hạ. Hoàng đế nước Kim nhiều lần cho mời ông đến kinh đô làm trụ trì Phổ Chiếu Tự, nhưng ông đều một mực chối từ. Hoàng tộc nước Kim, các vương công quý tộc đều ngưỡng mộ trí tuệ của thiền sư Pháp Hòa, họ vô cùng cung kính và lễ phép với ông.

Người Kim từng đánh giá thiền sư Pháp Hòa như thế này: Ông ấy giống như nước mắt của người cõi trời, có thể lan truyền chân lý nhà Phật trong thời binh đao loạn thế; có thể rưới cam lồ cứu thế trong bốn biển đang sôi sục, khiến cho thế lực xấu ác khiếp sợ bỏ chạy, khiến cho những người bi thương đau khổ tìm thấy giải thoát. Trong phạm vi một ngàn dặm, ông ấy có thể giáo hóa chúng sinh theo ý muốn của mình. Nhờ có sự khai ngộ của ông ấy, những người ngộ đạo lúc bấy giờ nhiều như vừng như kê.

“Tính như trăng cô đơn trên trời, ý như mây trắng bay tự tại”. Thiền sư Pháp Hòa đứng trên núi Tung Sơn giống như một điều vô cùng hiếm có, lan tỏa một mùi hương thanh nhẹ bay xa.

Dây câu từ từ cuộn lại, khuấy động các vì sao

Phong tục tập quán của nhà Kim không giống nhà Hán, nhưng cũng là đông đảo nhân tài, tỏa sáng như bầu trời sao.

Hơn 50 năm sau khi thiền sư Pháp Hòa viên tịch, Thiếu Lâm Tự lại nghênh đón thêm một vị thiền sư, pháp danh Giáo Hanh. Người dân thời bấy giờ dùng câu nói “Hùng văn dật hàn, khái ngọc phún châu” để hình dung tài hoa của ông ấy (“Hùng văn dật hàn, khái ngọc phún châu” có nghĩa là tài hoa văn chương siêu việt, ngôn từ nói ra tuyệt đẹp như ngọc ngà châu báu). Khương Tử Nha của nhà Chu câu cá tại sông Vị Thủy không phải câu cá mà là “câu” vương hầu; Giáo Hanh câu cá tại non sông nước Kim là đang “câu” đế vương và các chòm sao vậy.

Giáo Hanh 7 tuổi xuất gia, năm 13 tuổi (năm 1162) thực hành Cụ Túc giới (giới luật dành cho Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni trong Phật giáo), gặp được Khổ Qua tiên sinh cực kỳ giỏi về xem tướng. Khổ Qua tiên sinh nhìn thấy Giáo Hanh, hoan hỷ nói rằng: “Cậu bé này tương lai bước lên pháp tọa của đạo tràng, chắc chắn sẽ dẫn dắt hàng vạn tăng chúng”.

Khi vừa tròn 15 tuổi (năm 1164), Giới Hanh muốn đến Trịnh Châu đảnh lễ thiền sư Bảo Công ở Phổ Chiếu Tự. Vào đêm mà Giới Hanh đi đến Khai Phong, thiền sư Bảo Công mơ một giấc mơ. Trong mơ, ông nhìn thấy trên bầu trời xuất hiện những đám mây cát tường màu vàng kim, sau đó những đám mây này biến thành những đóa hoa sen, lần lượt rơi xuống dưới mặt đất. Sau khi thiền sư Bảo Công tỉnh dậy, nói với đệ tử rằng: “Ta đã mười năm không nằm mơ rồi. Giấc mơ này chắc chắn là một điềm lành”. Hôm sau, Giáo Hanh đi đến Phổ Chiếu Tự lễ bái. Thiền sư Bảo Công nhìn thấy thiếu niên Giới Hanh đôn hậu thông minh, trong lòng hiểu rõ giấc mơ đêm qua muốn ám chỉ điều gì, thế là ngày thường Bảo Công rất kiên nhẫn dạy bảo Giới Hanh.

Một hôm, Giới Hanh đang ngồi thiền tại Vân Thủy Đường, đột nhiên nghe thấy tiếng gõ mõ, trong lòng bỗng nhiên trở nên rõ ràng và sáng suốt, ngay lập tức lĩnh ngộ được một bài kệ: “Nhật diện nguyệt diên, lưu tinh thiểm điện. Nhược canh trì nghi, môn diên trước tiễn”. Thiền sư Bảo Công thấy Giới Hanh đã khai mở đại trí tuệ, vui mừng nói rằng: “Sau này, ta không thể lạnh nhạt với con nữa”.

Từ đó, Giáo Hanh bắt đầu đăng đàn thuyết pháp tại ngôi chùa chính trên núi Tung Sơn. Nhận được lời mời của thừa tướng A Bất Sa của nước Kim và Huyền Ngộ lão nhân, Giới Hanh đi đến kinh đô để làm trụ trì. Trong Phổ Chiếu Tự tại kinh đô có một cái cây cao lớn, cành lá vô cùng tươi tốt, cây vươn thẳng lên các đám mây trên bầu trời. Điều kỳ lạ hơn là các tán cây có thứ tự một cách tự nhiên, từ trên xuống dưới có tổng cộng 12 tầng, nhìn từ xa trông giống như một bảo tháp, thu hút rất nhiều đàn quạ và chim bay đến làm tổ. Những tăng nhân nhìn thấy cảnh tượng này đều nói rằng: “Đây là điềm lành, Phật pháp sắp được chấn hưng rồi”.

Không lâu sau, Kim Chương Tông viết chiếu thư, mời thiền sư Giới Hanh đến kinh đô chủ trì Đại Khánh Thọ Tự. Khi đó, có hơn một vạn tăng chúng trong ngôi chùa này, điều này thực sự ứng nghiệm với lời tiên tri của Khổ Qua tiên sinh: “Giới Hanh sau này chắc chắn sẽ dẫn dắt hàng vạn tăng chúng”.

Năm Thái Hòa thứ 8 (năm 1028), đám người của quốc công Thạch Mạt Trọng Ôn mời thiền sư Giới Hanh đi làm chủ trì Thiếu Lâm Tự. Thiền sư Giới Hanh mở pháp hội tại Thiếu Lâm Tự, chấn hưng Thiếu Lâm. Thiếu Lâm Tự với tháp cổ cao chót vót, đại hiển trang nghiêm, một lần nữa trở thành vùng đất an lạc để thanh tịnh tu hành, vang danh thiên hạ.

Tranh “Liễu Thiền Hồng Liệu” được vẽ bởi Vương Đình Quân của nhà Kim, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc (Nguồn: Wikipedia).

Thiền sư Giới Hanh thường xuyên đi lại giữa núi Tung Sơn và núi Thiếu Thất, hoặc ca hát ngâm thơ, hoặc ngắm trăng trên bầu trời, hoặc ngước nhìn bầu trời trong xanh bao la, tự tại vô cùng. Kim Chương Tông rất sùng bái thiền sư Giới Hanh, gọi ông là “hoa hồng liệu”. Ý tại ngôn ngoại, Kim Chương Tông dùng màu đỏ rực của hồng liệu (cây nghể răm), và tinh thần du long được toát lên từ hồng liệu để ẩn dụ công lao to lớn của thiền sư Giới Hanh đối với việc hoằng dương Thiếu Lâm.

Thiền sư Giới Hanh giống như một ông lão tiêu dao, một mình chèo một chiếc bè nhẹ bồng bềnh, thong dong đi xuyên qua dòng sông mênh mông. Hồng liệu đỏ rực sum suê, đứng một mình giữa trời thu. Trong đêm trăng sáng sau khi những giọt sương long lanh vừa mới rơi xuống, bầu trời rộng lớn, có một thiền sư đang lặng lẽ trên thuyền, làm nổi bật sự tĩnh lặng bên bờ sông. Khi thiền sư từ từ khỏa nhẹ mái chèo, dường như làm khấy động toàn bộ tinh tú trên bầu trời. Gió mát trăng thanh, cỏ thơm bên bờ, một hình ảnh ngập tràn ý thiền, khiến người ta quên hết mọi thứ muộn phiền.

Thiếu Lâm Tự trên núi Tung Sơn, tiếng chuông ngân vang mãi giai điệu cổ phong. Ánh sáng của vương triều soi rọi Thiếu Lâm, đó chính là thời tiết đẹp nhất trong nhân gian! Đế vương thống trị thiên hạ, tăng nhân tĩnh tọa nơi núi sâu. Một người sống nơi cung đình cao sang, một người tránh xa khói bụi nhân gian, hai người ngăn cách bởi các dãy núi trùng trùng điệp điệp, vẫn luôn hướng tâm về nhau. Dưới tiếng chuông vang vọng, họ ngắm nhìn những đám mây hàm chứa vô vàn ẩn ý đang phiêu diêu tự do trên bầu trời, lắng nghe tiếng suối chảy êm dịu, róc rách mãi không dừng, đã không còn lưu luyến đời sống thế tục nữa rồi.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||c90b7fa55__

Ad will display in 09 seconds