‘Tiếng chuông thánh thót âm vang vọng; nước chảy lơ thơ gợi ý thiền’. Những tao nhân mặc khách của nhà Tống bước chân lên núi Tung Sơn, du ngoạn Thiếu Lâm, chỉ thấy một tấm bia cao chót vót đứng giữa đất trời, lại cảm thán trước ánh sáng từ bi chói lọi của Phật Pháp chiếu khắp xưa nay…

Các văn nhân thi sĩ ở trong núi rừng, lắng nghe tiếng chuông tiếng mõ buổi sớm mai. Trong lúc nhàn nhã, dường như tận mắt nhìn thấy hàng ngàn vị Phật tụ hội nơi đây, võ công thiếu lâm độc bước thiên hạ. Ở trong tình cảnh ung dung nhàn nhã này, những học sĩ nổi tiếng và những quan nhân hiển hách chán ghét sự đua tranh của cuộc đời cũng may mắn được ông Trời để tâm, cho họ có con mắt trí tuệ quan sát đại cuộc của thiên hạ trong im lặng, lắng nghe mệnh lệnh đế vương hào hùng ban bố khắp thiên hạ trong rừng cây yên ắng.

Vua trị thế tức là tu hành

Bắc Tống là một vương triều thanh lịch tao nhã trong lịch sử Trung Quốc. Bức tranh “Thanh minh trường hà đồ” nổi tiếng đã miêu tả sự phồn hoa của Biện Kinh (Khai Phong) vô cùng sống động. Tranh cuộn khổ dài thể hiện được tư tưởng tự do và năng động của con người thời Tống, cùng với cuộc sống đương thời gần giống với thời cận đại, còn sự phồn hoa giàu có của thời Bắc Tống lại có liên quan rất lớn đến việc đế vương chấn hưng Phật giáo.

Năm 960 sau Công Nguyên, Điện tiền đô kiểm điểm (chức quan) của Hậu Chu là Triệu Khuông Dận lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu là “Tống”, trở thành Tống Thái Tổ. Sau khi Triệu Khuông Dận xưng đế, ông ra lệnh phế bỏ chiếu chỉ phá hủy Phật giáo trong thiên hạ của Hậu Chu, khôi phục tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Triều đình nhà Tống tổ chức dịch trường (nơi dịch kinh), in ấn kinh Phật, và phái người đi đến Tây Vực thỉnh cầu Phật pháp. Hoàng đế nhà Tống chấn hưng Phật giáo, đầu tiên là đem hạt giống thiện lành gieo trồng vào trong tâm của trẻ nhỏ. Tống Thái Tổ cho tám ngàn “đồng hành” đi đến các ngôi chùa học tập. Năm Hưng Quốc thứ nhất (năm 976), Tống Thái Tông Triệu Quýnh lại cho 170.000 “đồng hành” vào chùa học tập.

“Đồng hành” ở đây là muốn nói đến những cô nhi bị gia đình bỏ rơi khi còn nhỏ, hoặc là những trẻ em tự nguyện xuất gia sau khi được cha mẹ đồng ý. Triều đình nhà Tống đưa những trẻ em này vào “Đồng hành đường” trong chùa để tiếp nhận dạy dỗ về nghi thức tụng kinh, nghi quỹ, v.v. Những đứa trẻ này học tập và lớn lên trong chùa, tuy rằng chưa lấy được chứng nhận xuất gia chính thức, nhưng rất giỏi tụng kinh và biểu diễn các loại nhạc khí như trống, chiêng. Ngoài ra chúng cũng phải học tập các tác phẩm kinh điển nổi tiếng như “Trung Dung”, “Đại Học”, “Chu Dịch”…

Tống Thái Tông cho rằng, văn hóa nhà Phật rất có ích cho việc trị nước, đạo lợi tha mà Đức Phật đã nói cũng rất thích hợp đối với bậc thiên tử (vua). Hoàng đế trị vì thiên hạ mà có thể hành thiện tạo phúc cho chúng sinh, mang đến lợi ích cho tất cả thường dân trong thiên hạ, thì cũng là một kiểu tu hành. Tống Chân Tông cũng sùng bái Đạo giáo và Nho giáo, ông cho rằng: mặc dù sự diễn đạt của Phật giáo và Đạo giáo, Nho giáo có sự khác biệt rất lớn, nhưng nội dung ý nghĩa lại tương tự, đều là dạy bảo con người xem trọng đạo đức và hướng thiện. Cho dù là một số tăng sĩ hoặc đạo sĩ cá biệt nào đó không tuân thủ thanh quy đạo luật thì cũng không thể dễ dàng phế bỏ toàn bộ Phật giáo và Đạo giáo được.

Nho sĩ Lạc Dương chuyên tâm thiền học

Dưới bối cảnh vị đế vương nhà Tống sùng bái Phật giáo, môn thiền tông do Đạt Ma tổ sư sáng lập từ trong rừng sâu khi này đi vào thế tục, phát triển thành môn thiền học yêu thích của các văn sĩ lão phu (văn nhân, sĩ phu); Tư Mã Quang, Phú Bật, Hoàng Đình Kiên, Âu Dương Tu… đều cực kỳ đề cao môn thiền học này.

Năm Nguyên Phong thứ 5 (năm 1082), Văn Ngạn Bác trấn giữ tại tây đô Lạc Dương, ông triệu tập các sĩ lão phu lớn tuổi, bắt chước “Hội Hương Sơn Cửu Lão” của hòa thượng Như Mãn, Bạch Cư Dị của nhà Đường, cùng 13 người gồm Tư Mã Quang, Phú Bật, v.v.  tổ chức thành “Hội Kỳ Anh”, nghĩa là cuộc tụ hội của những người già có đức. 13 thành viên này đều là những vị đại thần có công lớn với hoàng đế Đại Tống, đã lập được chiến công siêu việt cho xã tắc và muôn dân. Mỗi lần bày tiệc tụ họp, các sĩ đại phu đều uống rượu làm thơ, để thể hiện nhã hứng thanh cao của họ. “Hội Kỳ Anh” khi đó dẫn đầu phong thái của Lạc Dương, trở thành một chuẩn mực văn hóa thời bấy giờ. (“Hội Hương Sơn Cửu Lão” còn gọi là “Hội Lạc Dương Cửu Lão”, là một hội thơ nổi tiếng của nhà Đường do Bạch Cư Dị thành lập, lấy địa điểm tụ hội tại Long Môn Tự ở Lạc Thành, gồm 9 thi sĩ nổi tiếng: Bạch Cư Dị, Hồ Cảo, Cát Văn, Trịnh Cứ, Lưu Trinh, Lư Thận, Trương Hồn, Địch Kiêm Mô, Lư Trinh)

“Tranh Hội Kỳ Anh ở Lạc Dương của người Tống”, lưu giữ tại Bảo tàng cố cung Đài Bắc (ảnh: Phạm vi công cộng).

Người dẫn dắt “Hội Kỳ Anh” là Văn Ngạn Bác, ông đã trải qua bốn triều đại nhà Tống từ Tống Nhân Tống, Tống Anh Tông, Tống Thần Tông đến Tống Triết Tông, giữ chức quan rất cao trong triều đình kéo dài hơn 50 năm, chức quan lên đến Thái sư, được phong làm Lộ quốc công. Ban ngày, Văn Ngạn Bác vào triều đình phò tá quốc sự; ban đêm ở nhà, ông tụng kinh tham thiền, vô cùng tinh tấn. Ông từng triệu tập mười vạn đại chúng ở trong kinh thành để trợ giúp nhà Phật cử hành đại hội.

Tài tử Phú Bật của Lạc Dương cả đời trải qua bốn triều đại từ Tống Trân Tông, Tống Nhân Tông, Tống Anh Tông đến Tống Thần Tông, giữ chức Tể tướng, là một vị quan thanh liêm, được phong làm Trịnh quốc công. Ông là một người rộng lượng và ôn hòa, bản tính nhân hiếu, bất luận là đối với đồng liêu hay là với bá tánh, ông đều vô cùng cung kính.

Phú Bật am hiểu tường tận mối quan hệ của ba nước Tống, Liêu và Tây Hạ, nắm rõ như lòng bàn tay, ông từng phò tá vua Tống mở ra mối quan hệ đồng minh với Liêu quốc và Tây Hạ, trở thành công thần ổn định cục diện của ba nước.

Thời trẻ khi Phú Bật vẫn chưa có công danh hiển hách, Phạm Trọng Yêm phát hiện ra ông có “vương tá chi tài” (năng lực phò vua trị nước) nên đã tiến cử Phú Bật với Tể tướng Yến Thù. Yến Thù cũng là một kỳ tài hiếm có, chưa đến 20 tuổi đã đỗ Tiến sĩ cao trung. Sau khi Yến Thù xem qua văn chương của Phú Bật, ông rất tán thưởng tài hoa của Phú Bật, nên đã gả con gái của mình cho Phú Bật. Sau này Phú Bật trở thành đông sàng khoái tế của Yến Thù. (Đông sàng khoái tế là một câu thành ngữ dùng để khen ngợi con rể, ý muốn ám chỉ người con rể rộng lượng và có tài năng xuất chúng)

Vào khoảng năm 1056 đến năm 1060, thiền sư Tu Ngung đến Thiếu Lâm Tự thuyết pháp, Phú Bật nghe tin liền đi đến đó nghe pháp. Năm Hy Ninh thứ 3 (năm 1070), khi Phú Bật trấn thủ Bạc Châu, ông đã đặc biệt đi mời thiền sư Tu Ngung đến giảng giải kinh điển nhà Phật. Phú Bật sau khi nghỉ hưu đã quay trở về Lạc Dương, ông lại một lần nữa đi mời thiền sư Tu Ngung vào Thiếu Lâm Tự, Chiêu Đề Tự thuyết pháp.

Tống Thần Tông nghĩ đến việc thiền tông vừa mới hưng thịnh, vẫn còn chưa có chỗ đứng vững chắc, cần phải dốc sức hoằng dương. Vì thế vào năm Nguyên Phong thứ 5 (năm 1082), hoàng đế hạ chiếu chỉ ra lệnh cho 64 viện của Đại Tướng Quốc Viện trong kinh đô mở ra 8 ngôi thiền viện và 2 ngôi luật viện. Thiền viện là nơi dành cho các thiền sư tham thiền ngộ đạo, thanh tịnh tu hành. Luật viện là nơi dành cho các tăng sĩ giảng giải giới luật. Nhờ vào sự vận động của Tống Nhân Tống, Tống Thần Tông cùng với sự ủng hộ của các đại thần trong triều, thiền học trong giai đoạn này đã phát triển triển một cách nhanh chóng.

Cách luật vi thiền, xây dựng Lan Nhược

“Phần hương dẫn u bộ, chước minh khai tịnh diên” – Đốt hương đưa bước nhẹ, rót trà mở tiệc chay. Đây chính là bức tranh miêu tả cuộc sống tao nhã của nhà Tống. Lúc này, Thiếu Lâm Tự ở trong núi sâu, không hữu ý ‘nở hoa’ nhưng lại vô tình thu hoạch được rất nhiều trái ngọt.

Năm Sùng Ninh thứ nhất (năm 1102), Tống đế hạ chiếu chỉ thông cáo thiên hạ, ra lệnh cho mỗi một quận đều phải chọn ra một ngôi chùa sửa thành thiền viện, đây chính là “cách luật vi thiền”. Thiếu Lâm Tự cũng vì một tờ chiếu chỉ của hoàng đế nhà Tống mà trở thành tổ đình thiền tông thực sự.

Năm Nguyên Hựu thứ tư (năm 1089), phủ doãn Hà Nam Hàn Chẩn mời hòa thượng Báo Ân đến Thiếu Lâm Tự truyền pháp. Những quan niệm mà hòa thượng Báo Ân thuyết giảng bị các tăng sĩ của Thiếu Lâm Tự nghi hoặc, đôi bên mở ra một cuộc tranh luận đấu trí sôi nổi. Buổi tranh luận này giống như là lật tung đại dương, chuyển toàn bộ nước biển vào trong hư không. Các tăng sĩ Thiếu Lâm Tự giống như đang nghênh đón một mặt trời soi rọi bầu trời, bằng lòng sửa đổi Thiếu Lâm Tự thành thiền viện một cách hoan hỷ.

Vì nguyên nhân xây dựng lăng tẩm mà hoàng đế nhà Tống đã đem Yển Sư, Đăng Phong, Củng Huyện đổi thành “huyện Vĩnh An”, Thiếu Lâm Tự nằm trong địa phận của huyện Vĩnh An. Khi huyện lệnh huyện Đăng Phong là Lâu Dị khẩn thiết mời Ngô Cư Hậu xây dựng hoàng lăng Vĩnh Thái, cũng mời ông ấy giúp đỡ xây “diện bích lan nhược”. Lan nhược là nơi tịnh tu của tăng sĩ; diện bích là ám chỉ điển tích Bồ Đề Đạt Ma quay mặt vào tường 9 năm để tu hành. Bởi vì Bồ Đề Đạt Ma chưa từng vào Thiếu Lâm Tự sống, cho nên Lâu Dị đã xây “diện bích lan nhược” ở bên ngoài Thiếu Lâm Tự, để thể hiện lòng tôn kính đối với Đạt Ma sư tổ.

Triều đình nhà Tống còn xây “am Sơ Tổ” trong Thiếu Lâm Tự. Am tự mới xây được chạm trổ điêu khắc đẹp đẽ, đoàn thiên nữ nhảy múa sống động, kim cang uy vũ hoành tráng. Nhìn từ xa về phía chánh điện, toàn bộ khung cảnh vô cùng trang nghiêm, khiến người ta tự sinh tâm kính ngưỡng.

Những bậc cao minh, đều vào cửa Phật

“Thủy thâm ngư cực lạc, lâm mậu ô tri quy” – Nước sâu cá vui thích, rừng rậm chim biết về. Thiếu Lâm Tự ở trong rừng rậm núi sâu cung cấp một nơi nghỉ chân cho bậc đế vương, các nhân sĩ trí thức và đại chúng mọi tầng lớp cũng muốn tìm tới nơi này để ‘quay về’ thực sự. Các đế vương của nhà Tống đã thúc đẩy sự hưng thịnh của tín ngưỡng tôn giáo, ranh giới của thế tục và Phật giáo cũng vì vậy mà trở nên mơ hồ nhạt nhòa.

Thế giới văn học sau thời kỳ Bắc Tống hầu như đều do một nhóm cư sĩ tổ chức mà thành, ví dụ như cư sĩ Sơn Cốc, cư sĩ Đông Pha, cư sĩ Trúc Hữu, cư sĩ Cô Khê, cư sĩ Khê Đường… đều có liên hệ đến nhà Phật. Nhà lý học Trình Di từng cảm thán rằng: “Những người học Phật hiện nay đều là một số bậc cao minh”.

Làn sóng thiền bắt đầu nổi lên từ Thiếu Lâm Tự lan rộng khắp lãnh thổ Đại Tống, có một tầm ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đến tầng lớp văn nhân nho sĩ. Những khám phá cuộc sống của họ cũng được hòa quyện vào trong lời thơ, ý nghĩa sâu sắc, ngập tràn sức sống.

Tô Đông Pha thành tâm tín ngưỡng Phật pháp, tinh thông thiền học. Trong mắt của ông, thơ ca và thiền pháp có thể bổ sung cho nhau. Nếu như có thể lĩnh hội được những âm điệu của thiền, nó sẽ rất có ích trong việc viết ra những câu thơ uyển chuyển. Ông nói, bất luận thân ở nơi lầu các hay là nơi núi rừng thì đều không có gì khác biệt. Nằm trên đỉnh núi cao có thể yên tĩnh quan sát thân mình, đi lại nơi hồng trần có thể nhìn thấu nhân tình thế thái, nhất tĩnh nhất động đều có lợi ích qua lại.

Có lợi thế về am hiểu thiền học nên tầm nhìn thế cuộc của Tô Đông Pha cũng rất rộng. Năm Thiệu Thánh thứ 4 (năm 1097), Tô Đông Pha bị lưu đày, bị đưa đến Hải Nam. Trên đường đi ông viết ra câu thơ: “Mang mang thái thương trung, nhất mễ thùy thư hùng” – Trong kho thóc mênh mông, ai tranh một hạt gạo. Trong đất trời rộng lớn bao la, Thần Châu giống như một hạt gạo vậy. Hàm ý sâu xa của hai câu thơ này nghĩa là con người sống trên đời không cần quá so đo tính toán, thân ở nơi đâu cũng đều giống nhau cả thôi. Trong bài thơ “Tiền Xích Bích phú”, ông chỉ dùng một vài từ ngữ mà đã nói lên sự hùng vĩ to lớn của vũ trụ, sự nhỏ bé của hạt bụi, đồng thời cũng nói ra sự bảo hộ của Vật Chủ đối với người đời.

Nguyên tác “Tiền Xích Bích phú” của Tô Thức, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng cố cung quốc gia Đài Loan (ảnh: Phạm vi công cộng).

Ảnh hưởng của Thiền học trong thi pháp của Hoàng Đình Kiên

Thuở ấy thi nhân Hoàng Đình Kiên của Bắc Tống vì yêu thích viết những ngôn từ yêu đương tình tứ, nên từng bị hòa thượng Pháp Tú nhắc nhở cảnh cáo. Hòa thượng Pháp Tú cảnh cáo Hoàng Đình Kiên rằng: Nếu như còn không hối cải, sau này chắc chắn sẽ gặp ác báo, đọa vào địa ngục Nê Lê. Hoàng Đình Kiên thề rằng sẽ không dám ngông cuồng tuyên truyền sự dâm dục nữa. Ông hài hước đặt tên cho nơi ở của mình là “Cảo Mộc Liêu”, “Tử Khôi Am”. Trong lúc ông cùng Hoàng Bân lão nhân đối đáp thơ từ để cảm tạ qua lại, ông nói: “Ngư du ngộ thế võng, điệu ngữ nhập thiền vị” – Cá bơi ngộ lưới đời, tiếng chim vào thiền ý. Nhà thơ ví bản thân mình là cá bơi dưới nước, chim bay trên trời đang khám phá ý nghĩa sinh tồn trên thế gian rộng lớn bao la.

“Diện bích cửu niên khán nhị tổ, nhất hoa ngũ diệp thân phân phó, chỉ lý đề quy thông lĩnh khứ, quân tri phủ? Phân minh vong khước lai thời lộ”. Bồ Đề Đạt Ma quay mặt về tường chín năm, để lại bài học một hoa năm lá. Ở trong lòng của Hoàng Đình Kiên, Bồ Đề Đạt Ma một chiếc giày cỏ đi về phương tây, vẫn quyến luyến những con người thế tục của cố hương, vẫn chưa đạt đến cảnh giới cao hơn.

Tuy rằng Hoàng Đình Kiên vẫn chưa vào chùa tu đạo, nhưng thơ từ của ông vẫn thể hiện được giai điệu thiền rất độc đáo. “Thế thái dĩ canh thiên biến tận, tâm nguyên bất thụ nhất trần xâm”, bất luận thế sự thay đổi như thế nào đi nữa, từ đầu đến cuối vẫn giữ được sự thanh tịnh trong tâm, không bị sự nhiễm ô của phong trần. Vị thi nhân có ngộ tính cực kỳ cao này, bỗng một ngày ngửi thấy mùi hương của hoa Mộc Lê mà minh tâm ngộ đạo.

Những văn nhân của giới văn học thời Bắc Tống yêu thích Phật học, trở thành trào lưu xã hội của thời bấy giờ. Vương An Thạch từng nói với người bạn Trương Phương Bình của mình rằng: “Khổng Tử, Mạnh Tử đã qua đời hơn một ngàn năm rồi, Nho giáo đã mất đi truyền nhân. Cho dù có truyền nhân thì cũng không phải là thuần Nho!”. Phương Bình nói: “Sao có thể nói là không có truyền nhân chứ? Vẫn còn có người siêu việt Mạnh Tử!, sau đó, Phương Bình liệt ra một danh sách tăng nhân: Hòa thượng Mã Tổ, hòa thượng Phần Dương, hòa thượng Đan Hà, hòa thượng Vân Môn… Vương An Thạch không hiểu ý của Phương Bình, Phương Bình nói tiếp: “Hiện nay Nho giáo yếu thế, các nhân sĩ lũ lượt kéo nhau đi quy y cửa Phật rồi!”. Vương An Thạch đem những lời này nói lại cho Tể tướng Trương Thương Anh nghe, Trương tể tướng vỗ bàn khen hay: “Đúng là quá tuyệt diệu. Luận này nhất ngộ đạo phá!”, từ đoạn ghi chép này có thể nhìn ra được mức độ sùng bái Phật giáo của các văn sĩ nhà Tống.

Nhất niệm huân giới hương, thiên niên ngưỡng huyền tông. Dưới âm thanh hùng vĩ của mệnh lệnh đế vương thời kỳ Bắc Tống, nhà vua cùng các danh sĩ ôm giữ một trái tim thuần khiết chân thành, rung chiếc chuông cổ trên cao trong chùa.

“Thiên phong nhất tích trượng, thiên niên nhất bát thủy” – Ngàn gió một cây trượng, ngàn năm một chén nước. Thiếu Lâm Cổ Tự dưới sự bảo hộ của các đế vương thời Bắc Tống đã trải qua cục diện thiên biến vạn hóa, vẫn tiếp tục thể hiện được phong thái tránh xa bụi trần của thế gian, trấn thủ giữa trời đất bao la bất tận.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||c90b7fa55__

Ad will display in 09 seconds