Trong hồi mở đầu của Tam quốc diễn nghĩa lấy quan điểm “Thiên hạ đại thế, phân cửu tất hợp, hợp cửu tất phân” nghĩa là: Thế lớn thiên hạ, chia lâu rồi lại hợp, hợp lâu lại rồi chia, đại thể nói về thế cục cuối thời Đông Hán từ thống nhất giang sơn phân tách thành tam quốc chân vạc. Tuy nhiên, diễn biến đại cục của lịch sử thực sự có phải là kết quả của “Phân cửu tất hợp, hợp cửu tất phân”.

“Thiên tử khí” ở phía Tây Nam

Cuối thời Đông Hán, khu vực Tây Nam Trung Quốc xuất hiện dự ngôn lưu truyền miệng từ người này sang người khác. 

Dự ngôn này do một nhà nho giỏi tướng số và chiêm tinh học tên Đổng Phù nói ra.

Năm thứ năm Linh Đế Trung Bình (năm 188 sau công nguyên) Lưu Yên, một người trong dòng tộc hoàng gia nhìn thầy thế cục hỗn loạn, trong lòng không ngừng nghĩ cách làm thế nào lánh xa vùng Trung nguyên để tránh họa. Ông ta vốn dĩ muốn cầu xin Linh Đế phái mình tới Giao Châu ở phía Nam của Trung Quốc, Đổng Phù lại chỉ điểm cho ông ta: “Kinh đô sắp xảy ra đại loạn, khu vực Ích Châu Tây Nam có xuất hiện vương khí”. Ông ta tỉnh ngộ và lập tức cầu xin được tới đây nhận chức. Sau đó Linh Đế cứ ông ta tới chăn nuôi tại Ích Châu, và Lưu Yên đạt được nguyện vọng. 

“Thiên tử khí” là gì? Nền văn hóa truyền thống Trung Hoa bác đại tinh thâm có lịch sử lâu đời, có nhiều tư tưởng sâu sắc và bí ẩn mà nhân loại hiện nay thường không thể hiểu được. May mắn thay, manh mối vẫn có thể được tìm thấy trong một số cuốn sách cổ.

Theo giải thích của “Tùy thư. Thiên văn chí”: màu sắc của “Thiên tử khí” là màu đỏ ở bên trong và màu vàng ở bên ngoài, tứ phía hình vuông. Những nơi Thiên tử tới, đều phát ra loại khí này, những nơi mà thiên tử sẽ đến cũng sẽ tản ra loại khí này. Tất nhiên, những khí như vậy tồn tại ở các không gian khác, và nó không phải là thứ mà người bình thường có thể nhìn thấy.

Khu vực Ích Châu Tây Nam Trung Quốc sẽ có vị thiên tử mới được sinh ra, vậy rốt cuộc đó là ai?

Sự nổi dậy của Lưu Bị

Trong thời kỳ hỗn loạn vào cuối thời Đông Hán, anh hùng Lưu Bị sinh ra ở huyện Trác thuộc U Châu ở vùng xa xôi Tây Bắc.

Lưu Bị là dòng dõi hoàng tộc, tổ tiên của ông là Lưu Thắng, vua của Trung Sơn Tĩnh vương, con trai của Hán Cảnh Đế. Tuy nhiên, gia tộc với một trăm thành viên dần dần sa sút. Cha của Lưu Bị mất sớm, gia cảnh nghèo khó, chỉ có thể cùng mẹ bán giày cỏ mưu sinh.

Lưu gia là một dòng họ lớn sống thành từng nhóm, phía đông của Ly viện có một cây dâu lớn, cao hơn 50 thước, nhìn từ xa cành lá rậm rạp, tựa như lông chim che bao phủ lên xe chở hoàng đế cưỡi trên đó. Người am hiểu phong thủy cho rằng: “Dòng họ này ắt sẽ có quý nhân”.

Khi còn nhỏ, Lưu Bị thường chơi đùa dưới gốc cây dâu với lũ trẻ hàng xóm, một hôm ông chỉ vào gốc cây nói: “Khi ta trở thành hoàng đế, ta nhất định sẽ ngồi lên loại xe như thế này”.

Chú của ông là Lưu Tử Kính khi nghe thấy vậy đã rất căng thẳng và nói: “Con đừng ăn nói hồ đồ như vậy, sẽ có thể gây hại làm diệt vong gia môn chúng ta đó”. Nhưng Lưu Nguyên Khởi, người cùng dòng tộc lại nói: “Đứa trẻ này không phải là người bình thường!” Vì vậy, thường trợ cấp giúp đỡ cho Lưu Bị tiền sinh hoạt phí.

Lưu Bị quả nhiên sinh ra đã có tướng mạo phi thường, thân cao bảy tấc năm thốn, hai tay dài quá đầu gối, tai cực lớn, có biệt danh là “Đại nhĩ nhi” (Cậu bé tai to). Năm mười lăm tuổi, mẹ của ông, một người rất coi trọng giáo dục, đã gửi ông đến học ở một người văn võ song toàn tên Thạc Nho Lữ Thực. 

Lưu Bị sinh ra đã có khí chất của một bậc đế vương, bản tính điềm tĩnh, ít nói, nhân đức trọng nghĩa, thanh niên trong thôn đều muốn tới kết bạn, nên ông đã kết duyên được vô số anh hùng hào kiệt.

Lưu Bị vào nước Thục, Thiên tử Tây Nam tới 

Từ một quý tộc với dáng vẻ hào sảng xuất thân nghèo khó, đến anh hùng nhân đức có hàng ngàn người đi theo, cuối cùng trở thành quân chủ của Thục Hán ở phía tây nam, Lưu Bị đã trải qua những khó khăn và nguy hiểm. Vào năm Kiến An thứ mười sáu (211 sau CN), lúc Lưu Bị tới đất Thục theo lời mời của người chăn cừu tại Ích Châu tên Lưu Chương, ông đã ngoài năm mươi tuổi.

Vào thời điểm đó, Chu Quần, một nhà chiêm tinh học ở khu vực Ích Châu cũng phát hiện: Trên bầu trời Ích Châu liên tục trong mấy ngày đều xuất hiện những cột khí màu vàng dài mấy trượng và những đám mây tía mang dấu hiệu điềm lành cũng thường bay lơ lửng bên dưới Bắc Đẩu Bội Tinh, tạo thành khung cảnh vô cùng kỳ diệu.

Hơn 20 năm sau khi xuất hiện lời dự ngôn của Đổng Phụ, đến đây cuối cùng thiên tử thực sự ở phía Tây Nam đã xuất hiện. Năm 221 sau Công nguyên, năm sau khi thành lập Tào Ngụy, Lưu Bị xưng đế dựng nước, chính thức đứng trên vũ đài vương giả.

Thiên tử khí ở Giang Đông

Ngoài dự ngôn thiên tử sẽ xuất hiện ở khu vực phía Tây Nam, từ rất sớm cách đó 400 năm, phía Đông Nam của Trung Quốc cũng lan truyền về “Thiên tử khí ở Giang Đông”.

Khi Tần Thủy Hoàng tuần hành tới  phía Đông vùng Hội Khê (210 TCN), thuật sĩ khi nhìn vượng khí đã dự báo: “Khoảng năm trăm năm sau, đất Ngô ở Giang Đông sẽ có khí của thiên tử”.

Vào thời nhà Hán, vận khí may mắn tốt lành đại biểu cho thiên tử “Hoàng kỳ tử khí” (mây tía lẫn vàng)  tượng trưng cho sự xuất hiện của thiên tử cũng luôn xuất hiện ở phía đông nam, vì vậy, các nhà chiêm tinh luôn tin rằng “Giang Đông có thiên tử khí”, là người có thể đạt được thiên hạ. công đức cuối cùng sẽ lập quốc và trở thành hoàng đế.

Vào thời kỳ Hán Hiến Đế Hưng Bình, cũng có một bài đồng dao được lưu truyền ở đất Ngô: “Hoàng kim xa, ban lan nhĩ, khải xương môn, xuất thiên tử”.  Xương môn là chỉ cổng thành phía tây của nước Ngô, bài đồng giao cũng dự báo thiên tử sẽ xuất hiện ở phía nam của nước Ngô.

Tôn Quyền bẩm sinh có quý tướng

Năm Hưng Bình thứ hai Hán Hiến Đế (195 sau CN), Tôn Sách, con trai của Tôn Kiên gây dựng phát triển qua khu vực sông Dương Tử, trong thời gian vài năm lập ra sáu quận ở phía đông sông Dương Tử, năm đó em trai thứ hai của ông là Tôn Quyền mới chỉ 15 tuổi.

Tôn Quyền sinh ra mặt vuông, miệng rộng, đôi mắt sáng ngời, cha ông luôn cảm thấy đứa trẻ này bẩm sinh có quý tướng. Sau đó khi lớn lên Tôn Quyền tính tình khoáng đạt cởi mở, tốt bụng, nhạy cảm quyết đoán. 

Khi đó, Lưu Uyển, sứ thần nhà Hán, phụng mệnh đến Giang Đông sắc phong cho Tôn Sách. Sau đó, ông nói với những người khác: “Theo tôi, mặc dù anh em nhà Ton gia đều rất có tài năng, nhưng phúc khí thọ mệnh đều không lâu, chi đứa con thứ hai là khác. biệt, cậu bé tướng mạo hiếm thấy, cốt giá phi phàm, là mạng đại phú quý, cũng là người trường thọ nhất”.

Không lâu sau, Tôn Sách đột ngột qua đời, Tôn Quyền mười chín tuổi nghe theo nguyện vọng cuối cùng của anh trai và nhận nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ Giang Đông.

Thiên tử đông nam “Thụ báo vĩ”

Tôn Quyền dựng nước xưng đế là muộn nhất trong ba quốc gia, và một câu chuyện thú vị làm sáng tỏ thiên cơ trong đó.

Tôn Quân rất thích săn bắn, một lần nọ ông đến gần miếu Đại Lão ở phía Nam Phàn khẩu săn bắn. Khi trời gần tối, ông gặp một bà lão, bà hỏi ông: “Cậu săn được con mồi gì?” Tôn Quyền nói: “Con vừa săn được một con báo cái”. Bà lão nói với ông: “Vậy sao cậu không “thụ báo vĩ” (dựng con báo thẳng đuôi lên? ”Nói xong, đột nhiên biến mất.

“Thụ báo vĩ” tượng trưng cho việc lập nên đại nghĩa của hoàng đế. Thông thường, cỗ xe cuối cùng của đội bảo vệ danh dự của hoàng thất sẽ buộc một cái đuôi báo và kéo lê trên mặt đất. Bà lão thần bí mà Tôn Quyền gặp là Sào hồ nữ thần mà miếu Đại Lão thờ phụng.

Vào năm Thái Hòa thứ ba của Tào Ngụy (229 sau Công Nguyên), gần vùng Hạ Khẩu, Vũ Xương có các loại thần thú như Hoàng Long, Phượng Hoàng… bay đến, tất cả các quan viên đều thúc giục Tôn Quyền xưng đế, thời cơ đã đến, vì vậy ông mưới chính thức xưng đế tại Vũ Xương, là Ngô Đại Đế.

Thiên mệnh một phân thành ba 

Dưới góc độ tiên tri lịch sử, sự chia cắt và thành lập của các nhà nước Ngụy, Thục và Ngô đã được báo trước từ lâu, không phải ngẫu nhiên. Ý muốn của Đức Chúa Trời là ba điểm, và không có quốc gia nào là chính thống. Ba quốc gia đều tuyệt vời và phản ánh lẫn nhau, đồng thời có sự sắp xếp lịch sử sâu sắc hơn của riêng họ. @ *

Nhìn nhận tự dự ngôn lịch sử, Ngụy, Thục, Ngô phân chia và lập nước đều đã được dự báo từ lâu, đều không phải ngẫu nhiên. Thiên ý chia ba, không có vấn đề một quốc gia là chính thống, tam quốc mỗi nước có sự ưu việt xuất sắc riêng, tỏa sáng lẫn nhau, đều có sự an bài thâm sâu từ lịch sử. 

Tài liệu tham khảo: 

  • Tam quốc chí ‧ thục thư ‧ tiên chủ truyện
  • Tùy thư ‧ thiên văn chí
  • Tống thư ‧ quyển nhị thập thất ‧ chí đệ thập thất
  • Vũ xương ký
  • Hán quan tự
  • Hậu đường trọng kiến sào hồ thái mỗ miếu ký
  • Tam giáo nguyên lưu sưu thần đại toàn

Theo Epochtimes
Bảo Hân biên dịch