phần trước, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã giảng một chút về giai đoạn lịch sử từ lúc Hán Vũ Đế băng hà đến những năm thời Đông Hán. 

Giáo sư Chương cho rằng vấn đề ngoại thích gắn với Đại Hán như hình với bóng, dù là Vương Mãng kết thúc thời kỳ Tây Hán hay Hà Tiến dẫn đến kết thúc của Đông Hán, họ đều là những ngoại thích. 

Sau khi Đông Hán diệt vong, Trung Quốc bắt đầu thời kỳ chia cắt 400 năm. Thời đại này có những sự kiện và đặc điểm chủ yếu gì?

Ý nghĩa danh hàm ‘Châu mục’ thời Đông Hán

Giáo sư Chương Thiên Lượng giảng, khi Hán Vũ Đế còn tại vị, ông đã phân thiên hạ thành 13 giám sát khu, mỗi khu gọi là một ‘châu’ (州), thiết lập quan giám sát gọi là ‘thích sử’ (刺史). Sau này ‘thích sử’ trở thành một cơ cấu thường trực, địa vị của ‘châu’ cũng cao hơn quận, cũng tức là đem chế độ quản lý 2 cấp Quận, Huyện lúc ban đầu trở thành chế độ 3 cấp là Châu, Quận, Huyện. Sau này vào những năm cuối thời Đông Hán, năm 184 SCN, Trương Giác lãnh đạo quân ‘hoàng cân’ (giặc khăn vàng) tác loạn. 

Bởi vì khi Trương Giác phát động phản loạn, ông ta lấy hình thức ‘Thái bình đạo’ (太平道: đạo Thái bình) để chiêu mộ tín đồ trên khắp toàn quốc, sau đó phân thiên hạ thành 36 phương, tương đương với 36 đơn vị quản lý khác nhau, kế đến ông đồng thời phát động phản loạn. Như thế tương đương với việc các địa phương khác nhau trên toàn quốc đồng loạt phản loạn, cho nên triều đình không có cách nào phái một đội đi dẹp loạn, họ đành phải trao cho ‘Thích sử’ các nơi quyền tự mình chiêu mộ quân đội để bình định phản loạn.

Như thế ‘Thích sử’ bắt đầu tự mình chiêu mộ binh lính. Họ vốn dĩ là các quan hành chính, nhưng hiện nay có thể chiêu binh, chính là nắm giữ quân đội của địa phương đó, đồng thời cũng nắm giữ quyền bổ nhiệm/bãi nhiệm nhân sự ở địa phương. Một số Thích sử đem danh hàm từ ‘Thích sử’ (刺史) chuyển sang ‘Châu mục’ (州牧).

Trên thực tế Châu mục đã trở thành tập đoàn quân phiệt xưng bá một phương. Do đó khi quân khăn vàng tác loạn thời Đông Hán năm 184 SCN, Trung Quốc tiến nhập vào thời kỳ chia cắt. Đoạn lịch sử thời Tam quốc với năm bắt đầu có những cách nói không thống nhất. Bởi vì chúng ta thấy trong ‘Tam quốc diễn nghĩa’, từ năm 184 SCN xảy ra ‘loạn khăn vàng’ (Hoàng cân chi loạn – 黃巾之亂), đến năm 280 SCN thì ‘tam phân quy nhất’ (ba nước quy một); nhưng thực tế lịch sử thì thời đại đồng tồn của 3 nước Nguỵ – Thục – Ngô chỉ kéo dài 35 năm, tức từ năm 228 SCN khi Tôn Quyền xưng đế đến năm 263 SCN ‘nước Nguỵ diệt Thục’.

2 sai lầm của Tư Mã Viêm nhà Tây Tấn

Năm 265, Tư Mã Viêm đã phế Hoàng đế thời đó là Tào Hoán, sau đó tự mình xưng Hoàng đế, kiến lập chính quyền Tây Tấn. Sau đó đến năm 280, Tây Tấn đã thôn tính nước Ngô, lúc này Trung Quốc tiến nhập vào thời đại thống nhất vô cùng ngắn ngủi. Sau khi Tư Mã Viêm làm Hoàng đế Tây Tấn, ông đã làm ra 2 quyết định vô cùng sai lầm. 

Quyết định sai lầm thứ nhất là Tư Mã Viêm đã khôi phục lại chế độ ‘phân phong’. Lúc ấy ông cho rằng, sở dĩ nước Nguỵ có thể bị gia tộc Tư Mã soán vị là bởi vì nước Nguỵ không phong một số ‘phiên vương’ (藩王: những vương ngoài kinh thành) để giúp đỡ bảo vệ chính phủ trung ương. Do đó sau khi Tư Mã Viêm làm Hoàng đế đã bắt đầu phong vương cho rất nhiều người trong gia tộc Tư Mã, ông còn cấp quân đội cho họ, điều này tương đương với việc khôi phục lại cục diện đại loạn thời Chiến Quốc.

Quyết định sai lầm thứ hai là Tư Mã Viêm dùng lại chế độ ‘Cửu phẩm trung chính’ thời kỳ Tào Nguỵ. Trên thực tế, chế độ này đã đoạn tuyệt sự lưu động của các giai tầng xã hội, tức dân thường rất khó thông qua học tập và nỗ lực của bản thân để làm quan trong chính phủ. Khi ấy các quan viên chính phủ do một số gia tộc lớn làm lũng đoạn, điều này tương đương với việc đem một bộ ‘thể chế chính trị bình dân’ thời Hán Vũ Đế khôi phục về ‘chế độ chính trị quý tộc’ thời Chiến Quốc.

Tư Mã Viêm sau khi thống nhất Tam quốc đã làm Hoàng đế 10 năm, sau đó thì băng hà. Người kế vị là con trai ông tên là Tư Mã Trung. Là người nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Chương nói rằng, nếu đánh giá một cách khách khí, thì Tư Mã Trung có IQ rất thấp. 

Khi đó Tư Mã Viêm có một chút do dự, cho nên trước khi băng hà, ông đã đem quyền lực giao cho người của gia tộc Tư Mã, cộng với ngoại thích (người bên ngoại) tên là Dương Tuấn, vì Dương Tuấn với gia tộc Tư Mã cùng nhau phò tá Tấn Huệ Đế Tư Mã Trung. Nhưng Tấn Huệ Đế có một người vợ tên là Giả Nam Phong, đây là một người phụ nữ hung hãn, thô lậu và gian trá. Giả Nam Phong đã lợi dụng mâu thuẫn giữa gia tộc Tư Mã và ngoại thích họ Dương để kích khởi một cuộc động loạn, lịch sử gọi cuộc động loạn này là ‘Bát vương chi loạn’. 

‘Bát vương chi loạn’ bắt đầu từ năm 290 kéo dài đến năm 306, trước sau khoảng 16 năm, đặc biệt đến hậu kỳ (những năm về sau) của ‘Bát vương chi loạn’, tức từ năm 301 đến năm 306, những người được phong vương của gia tộc Tư Mã đã đem quân chém giết lẫn nhau, thông thường một trận chiến điều động 10-20 vạn quân đội là điều hết sức bình thường. Do đó quốc gia thời kỳ ấy kỳ thực là ở trạng thái chia cắt. 

Trong quá trình chiến tranh, gia tộc Tư Mã ở phía bắc cảm thấy binh lực của mình không đủ, thế là họ liên kết với tộc Hung Nô ở phía bắc. Điều này mang đến một vấn đề nghiêm trọng đó là Hung Nô xâm nhập Trung Nguyên.

Khi đó ở vùng Tính Châu, nay thuộc vùng Sơn Tây (Trung Quốc) có một người Hung Nô tên là Lưu Uyên, vào năm 304 ông đã kiến lập Hán Quốc, quốc hiệu khi đó là Hán (漢). Sau đó đến năm 310, Lưu Uyên băng hà. Sau khi băng hà, con trai của ông là Lưu Thông kế vị. 

Năm 311, Lưu Thông đem binh tấn công đô thành Lạc Dương của Tây Tấn, đây được xem là một hạo kiếp (浩劫: kiếp nạn lớn) của văn hoá Trung Quốc, lịch sử gọi là ‘Vĩnh Gia chi loạn’.

Hoàng đế lúc đó của Tây Tấn là Tấn Hoài Đế bị bắt làm tù binh. Hai năm sau, Tấn Hoài Đế bị đầu độc chết. Khi Tấn Hoài Đế bị bắt, một người khác của gia tộc Tư Mã tên là Tư Mã Nghiệp chạy đến Trường An. Sau khi chạy đến Trường An, đợi đến khi Tấn Hoài Đế bị đầu độc chết, Tư Mã Nghiệp kế vị ở Trường An, lịch sử gọi là Tấn Mẫn Đế. Tiếp đó người Hung Nô tấn công Trường An.

Năm 316, sau khi cạn kiệt lương thực, Tấn Mẫn Đế đã đầu hàng tướng quân của Hung Nô, như thế Tây Tấn bị diệt vong.

Tranh vẽ Tấn Mẫn Đế.

3 ảnh hưởng của ‘Vĩnh Gia chi loạn’ đối với lịch sử Trung Quốc

Lời bạch: Sau khi Tây Tấn thống nhất trong thời gian ngắn, thì xảy ra ‘Vĩnh Gia chi loạn’, lúc này quốc lực đại suy, tộc Hồ phương bắc nhân cơ hội xâm lược Trung Nguyên. Lúc này văn hoá Trung Quốc đã trải qua hạo kiếp ‘Vĩnh Gia chi loạn’, Tây Tấn diệt vong. 

Tư Mã Duệ chạy về phía nam, xưng đế tại Nam Kinh, lịch sử gọi đây là thời kỳ Đông Tấn. Phương bắc Trung Quốc lần lượt xuất hiện chính quyền của 5 dân tộc thiểu số, lịch sử gọi đây là ‘Ngũ Hồ thập lục quốc’ (5 tộc Hồ thành lập 16 chính quyền). Vậy thì ‘Vĩnh Gia chi loạn’ có ảnh hưởng gì đối với lịch sử Trung Quốc?

Giáo sư Chương giảng, có thể nói ‘Vĩnh Gia chi loạn’ là ranh giới (phân thuỷ lĩnh – 分水嶺), sau sự kiện này đã sản sinh 3 ảnh hưởng vô cùng lớn đối với Trung Quốc. 

  • Thứ nhất là ‘văn hoá đại thiên di’ (di chuyển văn hoá từ bắc xuống nam).
  • Thứ hai là ‘dân tộc đại dung hợp’ (dung hợp dân tộc).
  • Thứ ba là ‘Phật giáo đại phát triển’ (Phật giáo phát triển mạnh mẽ).

Văn hoá đại thiên di

Đầu tiên, Giáo sư Chương nói một chút về ‘văn hoá đại thiên di’ (sự chuyển dịch văn hoá từ bắc xuống nam).

Khi tôn thất nhà Tấn nam độ (di chuyển về nam), rất nhiều ‘y quan sĩ tộc’ (衣冠士族), tức những người đọc sách hoặc là người làm quan đã đi đến vùng phía nam của sông Trường Giang.

Chúng ta biết rằng, trọng tâm của văn hoá Trung Quốc trong quá khứ nằm ở lưu vực sông Hoàng Hà, tức phía bắc của Hoài Hà. Nhưng sau khi Tấn thất (tôn thất nhà Tấn) di chuyển về nam, văn hoá Trung Nguyên cũng theo những sĩ tộc (người đọc sách hoặc làm quan) mà đi xuống phía nam, do đó chúng ta gọi đây là ‘y quan nam độ’ (衣冠南渡: áo mũ về nam), đồng thời đây cũng có sự di chuyển văn hoá về nam.

Trung tâm văn hoá Trung Quốc trên bản đồ. 

Dân tộc đại dung hợp

Về ‘dân tộc đại dung hợp’, Giáo sư Chương giảng, sau khi Tấn thất di chuyển về nam, thì toàn bộ phương bắc của Trung Quốc bị các dân tộc thiểu số cát cứ phân tranh, cho nên chúng ta thấy rằng: từ phía bắc sông Trường Giang lần lượt xuất hiện 5 dân tộc thiểu số, ban đầu nhất là Hung Nô, sau này xuất hiện tộc Yết, Đê, Khương, Tiên Ti, tổng cộng có 5 dân tộc lần lượt xưng đế ở Trung Nguyên. Lịch sử gọi đoạn thời gian này là ‘Ngũ Hồ loạn Hoa’ (5 tộc Hồ làm loạn Trung Hoa).

Tuy nói là ‘Ngũ Hồ loạn Hoa’, nhưng nhiều người Hồ rất ngưỡng vọng và sùng kính văn hoá Trung Nguyên, rất nhiều quân chủ người Hồ có năng lực, họ vô cùng tinh thông Nho học của Trung Quốc, thậm chí còn dùng chế độ quan lại của Trung Nguyên.

Sau khi người Hồ tiến nhập và làm chủ Trung Nguyên, họ dần dần học tập tập quán của người Hán, như thế người Hồ ở phương bắc bị người Hán đồng hoá. Giáo sư Chương thường giảng, biểu hiện của một dân tộc không phải là vấn đề huyết thống mà là dựa vào văn hoá, nói cách khác một dân tộc là một khái niệm văn hoá. Rất nhiều dân tộc trong quá trình này bị dân tộc Hán đồng hoá, sau đó dung nhập vào văn hoá lớn. Đương nhiên dân tộc Hán cũng vì thế mà hấp thu văn hoá của các dân tộc thiểu số. Đây là ảnh hưởng thứ hai, chính là quá trình dung hợp của các dân tộc phương bắc vào văn hoá Trung Nguyên.

Phật giáo đại phát triển

Ảnh hưởng thứ ba chính là ‘Phật giáo đại phát triển’ (sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo).

Chúng ta biết rằng khi Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc vào những năm Vĩnh Bình thời Hán Minh Đế Lưu Trang, đã mang đến sự hưng khởi cho tôn giáo bản địa là Đạo giáo, tương đương với việc sau khi một tín ngưỡng bên ngoài vào, thì tín ngưỡng bản địa cũng phải có sự hồi ứng. Do đó trong những năm thời Đông Hán, cháu 8 đời của Trương Lương là Trương Đạo Lăng đã tu luyện rồi ‘bạch nhật phi thăng’ ở Hạc Minh Sơn, gần Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên.

Khi đó ở Tứ Xuyên, Trương Đạo Lăng đã sáng lập một đạo gọi là ‘Ngũ đấu mễ đạo’ (五斗米道: đạo 5 đấu gạo). Trương Đạo Lăng cùng với Từ Tinh Dương, Khâu Hoằng Tế và Cát Hồng được gọi là Tứ đại thiên sư. 

Khi Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc, vì quá trình phiên dịch Phật kinh vô cùng hữu hạn, nên mọi người liễu giải nghĩa lý Phật giáo cũng hữu hạn, rất nhiều người khi đó coi Phật giáo là một chủng (loại) của phương thuật Đạo giáo. Đồng thời vì những thứ của Nho học và Đạo gia tương đối mạnh mẽ ở Trung Quốc, cho nên Phật giáo có phần bị ‘áp chế’.

Đợi đến thời kỳ Tây Tấn, Kinh học (tức Nho học) cũng dần bị suy yếu, những Sĩ đại phu Tây Tấn khi đó bắt đầu thích đàm luận về Huyền học. Giáo sư Chương đưa ra ví dụ, giống như chúng ta hiện nay ngồi ở một Salon, thường đàm luận/tán dóc với mọi người, nội dung chủ yếu là 3 cuốn sách: Lão Tử, Trang Tử và Chu Dịch, đây đều là những thứ của Đạo gia.

Sau này đợi đến khi ‘Tấn thất nam độ’ (tôn thất nhà Tấn di chuyển về nam), toàn bộ hình thái ý thức ở phương bắc thật sự trống không, bởi vì đại sĩ tộc thời đó cũng di chuyển về nam, cho nên Huyền học và Nho học thời Nguỵ Tấn cũng di chuyển về nam, còn phương bắc bị tộc Hồ chiếm lĩnh. Mà họ không có hình thái ý thức của mình, cho nên họ tiếp nhận Phật giáo tương đối dễ dàng. Đây là một nguyên nhân khiến Phật giáo phát triển ở phương bắc vào thời kỳ này.

Thời kỳ này có rất nhiều cao tăng đến Trung Quốc, giống như Phật Đồ Trừng, Đạo An, Cưu Ma La Thập v.v. họ đều đến phương bắc Trung Quốc, đã làm rất nhiều cống hiến cực đại đối với sự phát triển của Phật học. Họ không chỉ triển hiện các chủng thần thông bất khả tư nghị (được ghi chép trong chính sử), mà còn trong quá trình phiên dịch Phật kinh cũng trình bày Phật lý vô cùng cao thâm, cảm giác không thua gì tín ngưỡng truyền thống người Trung Quốc. Như thế việc ấy đã dẫn đến sự phát triển của Phật giáo phương bắc.

Còn sự phát triển của Phật giáo phương nam phải đợi đến thời kỳ Nam triều mới thật sự hưng khởi mạnh mẽ.

Do đó sau ‘Vĩnh Gia chi loạn’, Giáo sư Chương đã nói đến 3 đặc điểm, đó là: ‘Y quan nam độ’ (áo mũ về nam) mang đến ‘văn hoá đại thiên di’, sau đó là ‘dân tộc đại dung hợp’ và ‘Phật giáo đại phát triển’.

Phù Kiên hướng ánh nhìn về phía nam sông Trường Giang 

Các dân tộc thiểu số phương bắc, ở đây là Ngũ Hồ (5 dân tộc thiểu số nói ở trên Hung Nô, Yết, Đê, Khương, Tiên Ti) đã kiến lập 16 chính quyền, cho nên lịch sử gọi đây là ‘Ngũ Hồ thập lục quốc’. Những chính quyền này không ngừng phát sinh chiến tranh với nhau, do đó cuộc sống của lão bách tính vô cùng thống khổ. 

Trong quá trình này đã xảy ra một thời kỳ thống nhất tạm thời, đó là có một người của tộc Đê tên là Phù Kiên, ông tự xưng mình là Đại Tần Thiên Vương. Phù Kiên ở vùng đất Trung Nguyên đã làm:

  • Mở ra Nho học.
  • Phá trừ cường hào.
  • Tập quyền trung ương.
  • Khuyến nông giảng võ.

Khi ấy ở Trung Nguyên đã xuất hiện một cảnh tượng thanh bình, nhưng cũng rất ngắn và tạm thời. 

Tranh vẽ Đại Tần Thiên Vương – Phù Kiên.

Phù Kiên đặt đô thành ở Trường An, phía đông chính quyền Tiền Tần của ông là chính quyền Tiền Yên do họ Mộ Dung kiến lập. Họ Mộ Dung (Mộ Dung thị) này chúng ta có thể thấy trong những tiểu thuyết võ hiệp. Phía tây của Tiền Tần là nước Tiền Lương, phía bắc là tộc Tiên Ti, phía nam là Đông Tấn. Phù Kiên đã dùng kế sách của Vương Mãnh, trong vòng 7 năm thống nhất được vùng phía bắc sông Trường Giang, đồng thời ông bắt đầu kinh doanh ở vùng Tây Vực, chính là liên hệ lại với các nước ở Tây Vực, trên cơ bản đã khôi phục lại bản đồ phía bắc Trung Quốc và Tây Vực giống như thời nhà Hán. 

Vị trí Tiền Tần của Phù Kiên trên bản đồ.

Sau khi Phù Kiên đạt được những thắng lợi lớn như thế, ông liền hướng mắt nhìn đến vùng phía nam sông Trường Giang. Ông cho rằng, nếu tiêu diệt được tàn tích của chính quyền Đông Tấn, Trung Quốc sẽ lại thống nhất. Thế là năm 383 SCN, Phù Kiên đã phát động một cuộc chiến vô cùng nổi tiếng. Cuộc chiến tranh này kỳ thực cũng là vạch phân chia vận mệnh của dân tộc Trung Hoa, chính là Trung Hoa sẽ thống nhất hay chia cắt. Kết quả cuộc chiến này sẽ ra sao, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo: Phì Thuỷ chi chiến (肥水之戰: Trận chiến Phì Thuỷ).

Mạn Vũ

Chú thích:

(*) Link ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 1: Hợp cửu tất phân.

(**) Ảnh trong bài chụp từ ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 1.