Cuối thời Đông Hán, giặc Khăn vàng nổi lên, Đổng Trác gây hoạ, khiến các châu mục cát cứ phân tranh, chiến hoạ liên miên, xã hội loạn lạc. Nhân dân hoặc là chết ở xa trường, hoặc là rời khỏi quê hương xứ sở. Văn nhân phải tha hương cầu thực, phiêu bạt tứ phương, cái ăn, cái mặc còn chưa đảm bảo, nói gì đến thơ ca…

Xem thêm: Kỳ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14

Văn học nghệ thuật khi ấy dù có những tác phẩm lẻ tẻ, nhưng sức ảnh hưởng cũng rất hạn chế.

Nhìn thế gian hỗn loạn, anh hùng lấy binh dẹp loạn, lấy văn thể hiện ý chí, Tào Tháo đã sáng tạo nên ‘phong cách Kiến An’ (Kiến An phong cốt) dẫn dắt văn phong (cách viết) thời đó. 

Người khai mở ‘phong cách Kiến An’ trong văn học

Thuở ấy, văn chương vốn dĩ nho nhã khảng khái, nhưng nhìn thế gian với bao loạn lạc, thịnh suy… cũng tạo cho văn học đương thời nhiều sắc thái.

Tào Tháo đã tập hợp các văn nhân, trực tiếp khai sáng cục diện phồn vinh cho nền ‘văn học Kiến An’, khiến nó có được một trang huy hoàng trong lịch sử văn học Trung Hoa, giữ cho văn hoá Thần truyền trường tồn mặc cho chiến tranh tàn phá. 

Tào Tháo sáng tác rất nhiều. Ngoài những bài đã giới thiệu ở phần trước, ông còn có: ‘Gia truyện’ 1 quyển, ‘Nguỵ chủ tấu sự’ 10 quyển, ‘Nguỵ Vũ Đế tập’ 30 quyển, ‘Nguỵ Vũ Đế tập tân tuyển’ 10 quyển, ‘Nguỵ Vũ Đế tập bản’ 1 quyển v.v. Tuy nhiên đáng tiếc, phần lớn những trước tác này đã bị thất lạc.

Tào Tháo giỏi các thể văn, thư, biểu, lệnh v.v. Văn chương của ông đơn giản nhưng ý nghĩa đầy đủ, nhiều lớp nội hàm, khí phách hùng vĩ. Ví như câu ‘Người có ý chí, tất thành đại sự’ (Trong ‘Bao lữ kiền lệnh’) của ông đã trở thành cách ngôn, khích lệ kẻ sĩ. 

Ngoài ra Tào Tháo còn tinh thông thư pháp, binh thư, Thi kinh, Bách gia Chư tử, cờ vây, nhạc lý… Đặc biệt ông rất giỏi âm nhạc, hiểu âm luật. 

Tào Tháo còn biết sáng tác và thưởng thức âm nhạc. Ông rất coi trọng nhân tài âm nhạc. Những người giỏi âm luật như Thái Ung, Nguyễn Vũ, Nễ Hoành, Đỗ Quỳ… đều được Tào Tháo dùng lễ long trọng đối đãi, để họ sáng chế nhã nhạc, diễn tấu âm luật. 

Tào Tháo tinh thông âm luật, bỏ giả tồn chân, dẫn dắt âm nhạc của hậu thế phát triển. Đối mặt với tồn vong của nhã nhạc trong chiến loạn thời cổ đại, Tào Tháo đã lệnh cho Đỗ Quỳ chỉnh lý lại âm luật. 

Đỗ Quỳ am hiểu nhã nhạc, vốn là người chỗ Lưu Biểu, sau này ông hàng Tào Tháo. Có một lần, Sài Ngọc đúc chuông đồng không đúng ý Đỗ Quỳ, giữa hai người phát sinh tranh chấp, mới nhờ Tào Tháo phân xử. Vì Tào Tháo nghe hiểu âm luật nên khi kiểm định chuông đồng do Sài Ngọc đúc, ông phát hiện tiếng chuông không đúng âm luật. Sau đó Tào Tháo kết luận Sài Ngọc có tội. 

Kỳ tài thi pháp, thiên hạ vang danh

Ngoài việc tạo lập và quảng bá ‘văn học Kiến An’, Tào Tháo còn cống hiến vào sự phồn vinh của nghệ thuật thư pháp bấy giờ.  Khi đó, Tào Tháo đã tập hợp được các anh tài thư pháp bên mình như: Sư Nghi Quan, Lương Hộc, Chung Dao, Hàm Đan Thuần, Vi Đản… Tào Tháo cực kỳ thích đọc và trao đổi kỹ năng với các nhà thư pháp đương thời.

Tào Tháo đặc biệt thích bút tích của Lương Hộc, thường treo những bức thư pháp của người này trong phủ của mình. Tào Tháo có tiếng là xem thư pháp say mê đến mức quên ngủ. Trăm năm sau, đến thời Thư thánh Vương Hy Chi, ông ấy đã đến Hứa Xương để xem bút tích của Lương Hộc, Chung Dao… để nghiên cứu và thấu hiểu kỹ pháp của họ, nhờ đó sau này Vương Hy Chi mới trở thành bậc thầy thư pháp.

Bức thư Pháp của Tào Tháo (ảnh: Phạm vi công cộng).

Tào Tháo xứng đáng được gọi là một nhà thư pháp. Những người xem qua bút tích của ông trong lịch sử đều ca ngợi vẻ đẹp thư pháp của ông là ‘hoa vàng rơi xuống, tinh xảo khắp nơi; như ngọc xán lạn, xinh đẹp quyến rũ; bút mực hùng hồn, thẳng thắn uy nghiêm’. Tào Tháo được những nhà bình luận xếp vào ‘ngũ đại gia’ trong làng thư pháp thời Đông Hán. Ngũ đại gia gồm: Tào Tháo, Thôi Viện, Thôi Thực, Trương Chi và Trương Sưởng.

Bút tích còn sót lại của Tào Tháo là hai chữ ‘Cổn Tuyết’ (滾雪: tuyết cuộn dâng trào). Bởi vì năm ấy ông ở Thạch Môn – sạn đạo (ván gỗ bắc qua sườn núi) ở Hán Trung khi đánh Trương Lỗ ở phía tây. Thấy cảnh sông có sóng tuyết cuộn trào, nên ông lấy bút viết trên đá gần sông. Phiến đá này hiện đang được đặt ở Bảo tàng Thiểm Tây, góc dưới bên trái có đề tên tác giả là ‘Nguỵ Vương’.

Kết luận

Nguỵ Vũ Đại Đế là Chân nhân hạ phàm, dẹp loạn trị quốc, vô địch thiên hạ. Những ‘phong công vĩ nghiệp’ của ông đã lưu lại tiếng thơm ngàn đời.

Tào Tháo thành tựu nền ‘văn học Kiến An’ hoàng kim trong lịch sử văn học Trung Hoa, giữ cho văn hoá Thần truyền được bảo tồn trong chiến loạn. Những tác phẩm lớn về dụng binh như ‘Mạnh Đức tân thư’, ‘Tôn Tử lược giải’ được hậu thế tôn sùng, do đó người đời sau có câu rằng ‘nói về binh thì không ai bằng Tôn Vũ, còn về dụng binh không ai bằng Hàn Tín, Tào Công (Tào Tháo)’.

Tào Tháo chấm dứt tệ nạn tế tự mù quáng của quan dân, diệt trừ vong linh loạn quỷ, rất mực khuông phù (nâng đỡ, phò trợ) Đạo giáo, khiến nước Nguỵ trên dưới đều học Đạo, cả nước thanh bình. Trong cảnh loạn thế, ông vẫn thúc đẩy sự hưng thịnh của Đạo giáo, nâng cao đạo đức phong thái của người dân, công đức không gì lớn bằng.   

Nguỵ Vũ Đại Đế ‘công cao đức rộng’, giữ cho Hán thất kéo dài mấy chục năm. Ông nói ‘nếu quốc gia không có ta, không biết bao nhiêu người xưng vương xưng đế. Không có ta, đất nước đã lâm nguy. Vậy nên không thể lấy hư danh để chống chọi cái hoạ thực sự’. Ông kính vua, chỉ giữ chức đến Vương (không xưng Đế, còn Đế là sau khi Tào Phi soán vị rồi phong cho cha mình), hồng dương chính nghĩa, tận lực diễn cái nghĩa ‘thuận theo Trời để trị nước, trung quân báo quốc’. Ông cùng Gia Cát Lượng, Chu Du, Lưu Bị và Tôn Quyền đã diễn giải nội hàm thâm sâu của chữ Nghĩa mà Sáng Thế Chủ ban cấp cho nhân loại. 

Theo Epoch Times 
Mạn Vũ biên dịch