Trận đại hồng thủy cổ đại đã để lại di tích tại Hồ Bắc nhưng Phật gia lại nói đại hồng thủy không phải là chuyện của quá khứ, mà là chuyện của tương lai. Vậy nguyên nhân xảy ra đại hồng thủy trong thần thoại cổ đại là gì?

Năm 2020 lưu vực sông Dương Tử của Trung Quốc xảy ra các trận bão liên tục trong suốt một tháng, khiến một nửa đất nước Trung Quốc bị ngập trong nước. Tin tức về đập Tam Hiệp trên thượng nguồn tỉnh Hồ Bắc có khả năng sẽ bị vỡ đập được lan truyền khắp nơi. Cộng thêm địa thế của đoạn sông Dương Tử ở Hồ Bắc quanh co uốn lượn, còn có đoạn sông ở chỗ đất cao, các vựa lúa lớn ở đồng bằng Giang Hán và đồng bằng Động Đình Hồ, khiến Hồ Bắc trở thành tiêu điểm chú ý trong mùa lũ lụt này.

Những nơi có mực nước cao, độ cao lên đến tận lầu hai của một tòa nhà. Cộng thêm việc nửa đêm xả lũ mà không thông báo trước, nước ào ạt từ trong đập tràn ra, sức phá hoại của nó còn mạnh hơn là các trận mưa trên trời trút xuống. Nước tràn vào phá hủy đồng ruộng đã đành, ngay cả xe ô tô cũng bị cuốn trôi… nhà cửa sụp đổ, nhiều gia đình dắt nhau bỏ chạy tán loạn, những cảnh tượng kinh hoàng, nhìn thấy đã kinh hãi.

Trận đại hồng thủy thời cổ đại để lại tàn tích ở Hồ Bắc

Thật ra, vào thời thượng cổ Hồ Bắc đã xảy ra trận đại hồng thủy, để lại rất nhiều di tích. Trong “Hán Đường địa lý thư sao” có ghi chép như thế này, trên đoạn sông Dương Tử ở Nghi Xương tỉnh Hồ Bắc, trên vách đá cao cheo leo mà ngay đến chim cũng không muốn bay lên, có một khúc gỗ to và rất dài vẫn còn chưa cháy hết. Những người già ở địa phương nói rằng, trong đại hồng thủy của năm xưa, những người may mắn sống sót, cho thuyền đậu ở ngọn núi nhô ra khỏi mặt nước, lúc đốt lửa thổi cơm đã để lại dấu vết này. Sau này mọi người gọi nơi này là Sáp Táo (nghĩa là bếp lửa cắm vào khe vách đá).

“Hán Đường địa lý thư sao” có ghi: “Ở cuối Nghi Đô có một vách núi cheo leo thẳng đứng mấy trăm trượng, có một bếp lửa cắm vào khe vách đá, nhìn thấy dài mấy thước. Nghe kể, đại hồng thủy thời vua Nghiêu, có người neo thuyền tại đây, nấu ăn, nên gọi Sáp Táo”.

Trong Nghi Độ Huyện Chí ghi chép như thế này, tám mươi dặm về hướng tây huyện Nghi Đô Di Lăng tỉnh Hồ Bắc có núi Cao Khuông. Trong trận đại hồng thủy vào thời vua Nghiêu, ngọn núi này nổi lên trên mặt nước như một cái rổ tre mà không bị chìm.

Trong “Nghi Đô Huyện Chí” ghi chép: “Kinh Châu đồ chí nói rằng, Nghi Đô có núi Cao Khuông, tương truyền đại hồng thủy vào thời vua Nghiêu, núi này không bị chìm, nổi lềnh đềnh như rổ tre”.

Trên vách đá của đỉnh Cẩu Lũ cao 1.106m thuộc một trong 72 đỉnh núi của dãy núi Hoành Sơn tại Hồ Nam có khắc 77 chữ văn tự cổ, thư pháp kỳ lạ và khó phân biệt, gọi là bia Cẩu Lũ. Nghe kể đây cũng là bia đá ghi chép mực nước của trận đại hồng thủy xảy ra vào thời của vua Nghiêu.

Trong địa phận huyện Tiên Cư tỉnh Chiết Giang có một ngọn núi, tên là núi Vi Khương, trên núi có một vách đá nguy hiểm tên Khoa Đẩu Nhai, có người tìm thấy những ký tự kỳ lạ được chạm khắc bởi bàn tay con người ở phía trên vách đá, thường gọi là chữ Khoa Đẩu (hay chữ nòng nọc). Trong dân gian từng có truyền thuyết kể rằng, nơi này vốn dĩ là một hồ nước mênh mông, năm xưa khi vua Nghiêu trị thủy đã từng đến nơi này, khắc chữ Khoa Đẩu tại nơi này. Cũng có nghĩa là, những chữ này có liên quan đến đại hồng thủy.

Tại huyện tự trị của dân tộc Bố Y và dân tộc Miêu Quan Lĩnh thuộc thành phố An Thuận, tỉnh Quý Châu cũng có một bia đá đỏ gọi là “Thiên thư thần bí”, trên đó có khắc những chữ viết rất khó nhận biết là chữ gì. Phiên dịch ra ý nghĩa đại khái là “Vách đá đỏ đối vách đá trắng, kim ngân thập bát chiêu, người nào phá giải được, tiếng sấm đánh mời gọi đến”. Mọi người suy đoán nó có thể cũng giống như Khoa Đẩu Nhai, cũng có liên quan đến đại hồng thủy.

Trận đại hồng thủy trong lịch sử đã để lại rất nhiều tàn tích. Những ngọn núi cao có dấu vết của trận đại hồng thủy liệt kê phía trên đều có độ cao khoảng 1200 mét trên mực nước biển. Vì vậy có một số học giả suy đoán rằng, mực nước của trận đại hồng thủy của thời cổ đại cao khoảng 1200 đến 2000 mét, cũng có nghĩa là những nơi có mực nước biển dưới 1200 mét toàn bộ đều bị ngập trong nước lũ. Điều này cũng phù hợp với địa hình ba bậc thang chính của Trung Quốc.

Địa hình ba bậc thang chính của Trung Quốc (ảnh: Miền cộng đồng).

Như các khu vực đồng bằng ở hạ du sông Dương Tử và sông Hoàng Hà, có mật độ dân số đông đúc, kinh tế phát triển, toàn bộ đều bị nhấn chìm trong trận đại hồng thủy. Đây là một sự hủy diệt nặng nề đối với nền văn minh nhân loại.

Cũng có những học giả suy đoán rằng, sở dĩ những chữ viết khắc trên các bia đá của thời cổ đại lại kỳ lạ khó hiểu như vậy có thể là vì những người sống ở khu vực đồng bằng có trình độ văn minh tương đối cao của thời bấy giờ đều bị chết chìm trong trận đại hồng thủy. Những người may mắn sống sót đều là những người sinh sống ở trên núi cao, chuyên chăn trâu chăn cừu có trình độ văn hóa không quá cao, không biết viết quá nhiều chữ, vì vậy mới để lại rất nhiều ghi chép bằng các ký tự khó hiểu.

Vậy thì, tại sao lại xảy ra đại hồng thủy? Các câu chuyện liên quan đến đại hồng thủy, bất luận là ở phương Tây hay phương Đông, các dân tộc trên thế giới có hơn 270 câu chuyện liên quan đến trận đại hồng thủy. Phần lớn nội dung của các câu chuyện đều tương đồng. Có người nói đùa rằng, nếu không phải là tổ tiên của chúng ta vào mấy ngàn năm trước gọi điện thoại đường dài cho nhau, cùng nhau bịa ra một câu chuyện để lừa gạt con cháu đời sau, vậy thì trận đại hồng thủy chắc chắn là đã từng xảy ra. Vậy thì các tình tiết giống nhau trong các câu chuyện rất đáng để chúng ta suy ngẫm.

Sư tử đá mắt đỏ

Ngày xưa có một ngôi làng nọ, đạo đức của người dân đều trở nên rất xấu xa, ông trời chuẩn bị phá hủy ngôi làng này. Nhưng Bồ Tát Địa Tạng nhìn thấy trong làng vẫn còn có một bà lão rất lương thiện, mỗi ngày đều thắp hương lễ lạy trước tượng Phật, tu dưỡng đạo đức. Thế là Bồ Tát hóa thân thành một người ăn xin vừa bẩn vừa hôi thối đi đến ngôi làng đó để ăn xin nhưng không một ai chịu bố thí.

Mọi người trong ngôi làng đó đều rất lạnh lùng, giống như không hề nhìn thấy người ăn xin vậy. Đám thanh niên trong làng còn đấm đá người ăn xin không ai màng đến này. Nhìn thấy người ăn xin vừa bẩn vừa hôi thối, vừa lạnh vừa đói lại còn bị đánh đấm, càng không ai muốn để ý đến người ăn xin này.

Lúc này bà lão đang đứng ở cổng làng nhìn thấy người ăn xin, liền vội vàng đưa người ăn xin về nhà, cho người ăn xin uống nước và ăn cơm. Không ngờ người ăn xin bỗng nhiên biến ra hình tướng của Bồ Tát, trang nghiêm thù thắng, Bồ Tát nói với bà lão rằng sắp xảy ra đại hồng thủy rồi, kêu bà lão đi thông báo cho người dân trong làng để chuẩn bị bỏ chạy. Khi đôi mắt của tượng sư tử đá ở cổng làng biến thành màu đỏ thì đại hồng thủy sẽ đến. Sau khi nói xong, Bồ Tát liền biến mất. Bà lão vẫn còn ngơ ngác chưa hết kinh ngạc, rồi bà hướng về nơi mà Bồ Tát biến mất lạy ba cái để cảm tạ.

Thế là bà lão không chần chừ thêm một phút giây nào, lập tức chạy ra khỏi nhà, đi gõ cửa từng nhà một, nói với mọi người là khi mắt của sư tử đá ở cổng làng biến thành màu đỏ là sẽ có đại hồng thủy, mọi người mau chuẩn bị thoát thân đi. Mọi người trong làng đều cho rằng chắc bà lão bị bệnh rồi nên nói năng linh tinh. Chỉ có một số ít gia đình là tin vào lời của bà lão, nên đã chuẩn bị đồ đạc mang theo. Đám thanh niên trong làng nghe bà lão nói vậy, cười nhạo bà lão kể chuyện hư cấu mà còn kể đầy đủ chi tiết như vậy, nên bọn họ muốn trêu ghẹo bà lão một phen.

Nhân lúc trời tối, bọn họ nhuộm đỏ hai con mắt của tượng sư tử đá. Sáng hôm sau bà lão thức dậy, đi ra cổng làng xem. Không hay rồi, mắt của sư tử đá thật sự đã biến thành màu đỏ rồi, thế là bà lão vừa chạy vừa hô lớn tiếng: “Mọi người mau chạy đi! Đại hồng thủy sắp đến rồi!”. Đám thanh niên từ sáng sớm đã ngồi ngay cạnh tượng sư tử đá để chờ xem trò cười, bọn họ cười nghiêng cười ngã đến nỗi không đứng thẳng người được. Bà lão vẫn đi thông báo từng nhà để kêu mọi người bỏ chạy. Đám thanh niên thì đi theo sau lưng bà lão để cười nhạo bà, và còn nói thầm cho người dân trong làng biết rằng mắt của tượng sư tử đá là do bọn họ tối hôm qua đã bôi đỏ.

Tiếng hô gọi cấp bách của bà lão trộn lẫn với tiếng cười nhạo của đám thanh niên, vang vọng khắp ngôi làng. Bà lão vội vàng chạy về nhà, mang theo hành lý rồi chạy một mạch lên trên núi, phía sau có vài ba người chạy theo bà. Đợi khi bà lão cùng vài người dân làng đó chạy đến trên đồi, đại hồng thủy từ trên trời trút xuống, toàn bộ ngôi làng cùng với tiếng cười nhạo đều bị nhấn chìm trong nước.

Lôi Công cứu hai anh em Phục Hy

Tại khu vực Tây Nam của Trung Quốc, có một truyền thuyết về Phục Hy. Vào thời xa xưa, một hôm Lôi Công nổi giận, giáng sấm sét xuống để ra oai, rồi một trận mưa lớn trút xuống giống như một cây roi đang quật vào vạn vật dưới mặt đất. Có một người nông dân sinh sống trên núi, nhìn thấy Lôi Công cầm trong tay cây búa to đang lao về phía mình. Ông bèn lấy cây đinh ba ra chiến đấu với Lôi Công, không ngờ lại có thể đâm Lôi Công bị thương, rồi bắt Lôi Công nhốt vào trong một cái lồng.

Ngày hôm sau khi người nông dân đi ra ngoài, Lôi Công nói chuyện với hai đứa con của một thợ săn, hai đứa trẻ tốt bụng đó đã thả Lôi Công ra. Vì để báo đáp ơn cứu mạng của hai anh em, Lôi Công nói rằng sắp xảy ra đại hồng thủy, hai đứa trẻ hãy mau chuẩn bị thoát thân. Lôi Công nhổ một chiếc răng của mình, kêu hai đứa trẻ đem chiếc răng này trồng xuống dưới đất và căn dặn hai anh em là nếu như đại hồng thủy đến, thì chui vào bên trong quả của cái cây này.

Một lúc sau người nông dân quay về, nhìn thấy Lôi Công đã chạy thoát, không nói một lời nào, ông lập tức dùng số gỗ vừa mới mua về chế tạo thuyền. Hai anh em lấy chiếc răng của Lôi Công trồng xuống dưới đất, bỗng chốc liền biến thành một quả bầu hồ lô rất to. Hai anh em nạo sạch ruột của quả bầu, rồi chui vào bên trong.

Lúc này nước mưa ở trên trời trút xuống, mắt đất cũng nứt ra, nước lũ dâng lên cao, đại hồng thủy đến rồi. Hai anh em ngồi bên trong quả bầu hồ lô nên đã thoát chết, anh trai tên Phục Hy ca, em gái tên Phục Hy muội. Sau khi lớn lên, hai người họ trở thành vợ chồng, sau đó nhân loại mới sinh sôi trở lại từ đầu.

Tổ tiên của người Ấn Độ và trận đại hồng thủy

Tại Ấn Độ có một truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có một tu sĩ khổ hạnh tên là Manu khi đang tắm trên sông Hằng, vô tình cứu sống một con cá nhỏ đang bị một con cá lớn đuổi bắt ăn thịt. Ông đem con cá nhỏ này về nhà, bỏ vào trong ao nuôi lớn, rồi lại mang nó thả xuống sông Hằng. Con cá nhỏ nói với ông, mùa hè năm nay nước lũ dâng cao, sẽ hủy diệt toàn bộ sinh vật, kêu Manu nên có sự chuẩn bị từ trước. Khi nước lũ dâng lên, con cá nhỏ kéo chiếc thuyền của Manu đi đến nơi an toàn. Từ đó về sau con cháu của Manu sinh sôi thành tổ tiên của người Ấn Độ, và cuốn sách “Manusmriti” cũng là do ông truyền lại cho đời sau.

Thổ dân Châu Mỹ và đại hồng thủy

Trong truyền thuyết của người Peru bản địa, ngày xưa thần Barikaka đi đến một ngôi làng đang tổ chức ăn mừng ngày lễ. Vì ông ăn mặc rách rưới, nên không ai để ý đến ông, cũng không ai mời ông ăn uống. Chỉ có một cô gái trẻ lương thiện thấy ông rất đáng thương, đã rót cho ông một ít rượu. Vì để tỏ lòng biết ơn với cô gái trẻ, Barikaka nói với cô ấy rằng năm ngày nữa ngôi làng này sẽ bị hủy diệt, kêu cô tìm một nơi an toàn để trú ẩn và dặn cô gái không được nói chuyện này cho những người khác biết. Thế là, Thần Barikaka mang bão và lũ lụt đến, chỉ trong một đêm đã hủy diệt hết toàn bộ ngôi làng, trận đại hồng thủy nhấn chìm cả những ngọn núi cao.

Và rất nhiều trận đại hồng thủy khác

Còn có trận đại hồng thủy trong câu chuyện con tàu Noah của Kinh Thánh. Trong các phiến đất sét của người Sumer cách đây 3500 năm có ghi chép về trận đại hồng thủy. Trong thần thoại của Babylon kể rằng, Thần Bel nổi giận với người thế gian nên quyết định trút đại hồng thủy xuống tiêu diệt nhân loại. Người Q’eqchi’ sống ở khu vực Guatemala có một cuốn sách cổ tên là “Popol Vuh” cũng có ghi chép trận đại hồng thủy hủy diệt nhân loại.

Trong kinh thánh của người Maya ghi chép: “Đây là sự hủy hoại mang tính hủy diệt… một trận đại hồng thủy, mọi người đều bị chết chìm trong trận mưa lớn dính bết trút từ trên trời xuống”.

Bài giảng pháp cuối cùng của Phật Thích Ca Mâu Ni có nói đến trận lũ lụt trong thời mạt thế (ảnh minh họa: Pixabay).

Lũ lụt trong thời kỳ mạt Pháp

Trong Phật giáo cũng có những ghi chép liên quan đến trận đại hồng thủy, nhưng không phải là chuyện xảy ra trong thời kỳ cổ đại, mà là chuyện sẽ xảy ra trong tương lai. Trong “Kinh Pháp Diệt Tận” có ghi chép như thế này, trong những tháng cuối cùng trước khi đức Phật nhập Niết Bàn, ngài không còn hiển thị hình tướng sáng chói vô biên nữa mà chỉ ngồi im lặng, rất ít khi nói chuyện. A Nan cảm thấy ngày thường đức Phật hay hiển thị hình tướng trang nghiêm sáng chói, tại sao bây giờ lại bình thường như vậy? Chắc chắn là có nguyên nhân gì đó. A Nan hỏi đức Phật ba lần, cuối cùng Phật cũng mở miệng nói chuyện với A Nan.

Đức Phật nói, nhiều năm sau sau khi Phật nhập Niết Bàn, Phật pháp sẽ biến mất, đó cũng là lúc Pháp diệt. Ngũ hành trong cõi người này sẽ bị đảo ngược, hỗn độn vô cùng, đạo lý của ma quỷ sẽ thịnh hành trên thế giới này. Ma quỷ biến hóa thành hình tướng của tăng và ni, phá hoại Phật pháp, con người không còn lo bi mẫn từ bi, lòng ganh ghét căm hận gia tăng biến thành tai ương, Phật giáo sẽ xuất hiện rất nhiều hiện tượng hỗn loạn.

Mà ở cõi người này, người nữ bằng lòng tu luyện nhiều hơn, còn người nam bằng lòng tu luyện thì rất ít. Phật Pháp và giá trị phổ thế sẽ dần dần biến mất hoàn toàn khỏi thế gian này. Vào lúc đó, ông trời sẽ khóc thương, lũ lụt hạn hán xuất hiện, ngũ cốc khó thu hoạch, dịch bệnh hoành hành khắp nơi, số người chết không thể nào đếm hết được.

Thời gian của thế gian lúc đó sẽ trôi qua nhanh hơn, thọ mạng của con người cũng bị rút ngắn lại, kẻ xấu nhiều như những hạt cát dưới đáy biển, nước lũ đột nhiên từ trên trời đổ xuống, không biết ngày nào sẽ dừng lại. Mà con người lại không biết suy xét những nguyên nhân của tai họa, ngược lại còn cho đó là hiện tượng tự nhiên. Bất luận là giàu nghèo sang hèn, côn trùng hay con người, đều bị chìm trong nước lũ, trở thành thức ăn trong miệng của rùa, cá.

Vào thời đó, vị Phật tương lai, cũng chính là Phật Di Lặc sẽ hạ thế. Chỉ có những nơi trở thành đất Phật mới có thể tiêu trừ được dịch bệnh, bốn mùa mới có thể xoay chuyển bình thường, ngũ cốc mới có thể sinh trưởng bình thường. Vào thời kỳ đó, hoàn cảnh sống sẽ càng ngày càng tốt đẹp, con người sẽ có chiều cao tám thước, thọ mạng của con người cũng đạt đến tám vạn bốn ngàn tuổi, rất nhiều người sẽ tu luyện đắc Đạo.

Trong những câu chuyện về trận đại hồng thủy cổ đại kể trên đều nói rằng vì đạo đức của nhân loại trở nên xấu xa, bại hoại, nên Thần mới hủy diệt nhân loại, mới giáng đại hồng thủy xuống. Và trước khi trận đại hồng thủy xảy ra, Thần cũng đưa ra lời cảnh báo cho con người trước khi đại kiếp nạn xuất hiện. Đây chính là sự từ bi lớn nhất đối với con người nhưng mà có tin vào lời của Thần hay không lại là điều quyết định có thể sống sót hay không.

Còn những gì Phật Thích Ca Mâu Ni nói, đại hồng thủy của thời kỳ mạt Pháp cũng là vì con người trở nên xấu xa. Pháp của đức Phật đã không thể giáo hóa những con người của thời kỳ đó nữa, theo quy luật nhân quả con người sẽ phải gánh chịu những tai ương do chính nghiệp lực của mình gây ra, cho nên sẽ xuất hiện tình trạng không thu hoạch được ngũ cốc, dịch bệnh và đại hồng thủy. Lúc đó những ai còn ghi nhớ lời dạy của Đức Phật, thì còn có thể thoát chết, có hy vọng gặp được Phật Di Lặc của tương lai, đi đến một tương lai tốt đẹp.

Theo Sound Of Hope
Châu Yến biên dịch