Năm Hồ Thích 13 tuổi, theo lệnh của cha mẹ, ông đính hôn với Giang Đông Tú 14 tuổi. Sau đó, ông rời quê nhà đến Thượng Hải rồi sang Mỹ du học. 

Trải qua 13 năm ly biệt, vào mùa đông năm 1917, Hồ Thích giữ đúng lời hứa trở về quê hương kết hôn với Đông Tú và tự mình đề hai câu phúc đối: “Cựu ước thập tam niên, hoàn du thất vạn lý” (tạm dịch: Lời ước hẹn cũ 13 năm, du ngoạn vòng quanh 7 vạn dặm) ​​và “Tam thập dạ đại nguyệt lượng, niệm thất tuế lão tân lang” (tạm dịch: Đêm 30 trăng sáng tròn, chàng rể già 27 tuổi). 

Hồ Thích. (Nguồn: Wiki)

Khi Hồ Thích còn ở nước ngoài, ông thường xuyên viết thư cho Đông Tú, khuyến khích Đông Tú đọc sách, học chữ. Mỗi lần viết thư về cho gia đình, ông chưa bao giờ quên nhờ mẹ nhắc Đông Tú viết nhiều thư cho mình hơn. Thỉnh thoảng, Hồ Thích còn có thể hóa thân thành một ‘cô gái nhỏ’ hờn giận, oán trách tại sao lại không nhận được thư của Đông Tú.

Hồ Thích từng nhiều lần bày tỏ trong nhật ký của mình cảm giác áy náy và lòng biết ơn đối với Đông Tú – người đã hết lòng bầu bạn chăm sóc mẹ ông nhiều năm và đã chịu khổ chờ đợi ông.

“Đồ tả lập Đông Tú, phác tố chân ngô phụ.
Quy lai hội hữu kỳ, dữ quân lão huề mẫu.
Ngã đương thụ quân độc, quân vi ngã cụ tửu”

Dịch nghĩa:

Đứng bên trái tranh là Đông Tú, mộc mạc thuần phác đúng vợ tôi. 
Rồi sau sẽ có ngày trở lại, cùng nàng mẫu đất thửa ruộng bên nhau đến già.
Tôi dạy nàng đọc sách, nàng vì tôi bày rượu.

Đây là bài thơ ngắn Hồ Thích viết tặng Đông Tú, từng câu chữ đều bao chứa trong đó tình cảm chân thành của ông.

Sau khi kết hôn, ông không chỉ đón vợ về Bắc Kinh mà còn dành thời gian cùng vợ đi mua sắm, xem phim, ăn uống, cho vợ thấy sự phồn hoa của chốn đô thị rộng lớn. Một người vốn thích thức khuya như Hồ Thích còn vì vợ con mà thay đổi toàn bộ thói quen sinh hoạt, nghỉ ngơi trước sau như một của mình. Ông đem hết toàn lực cố gắng hoàn thành trách nhiệm, trở thành một người chồng, người cha đáng tin cậy.

Không chỉ là một người đàn ông tốt, Hồ Thích còn là tấm gương “sợ vợ” nổi tiếng qua nhiều thế hệ. Ông thậm chí từng tự đề ra nguyên tắc “tam tòng tứ đức” khiến cho không ít đàn ông hiện đại phải xấu hổ đỏ mặt. Đó là: Khi vợ ra ngoài phải đi theo, mệnh lệnh của vợ phải tuân theo, vợ nói sai rồi cũng nhắm mắt hùa theo; khi vợ trang điểm phải chờ đợi, ngày sinh nhật vợ phải nhớ kỹ, khi vợ đánh mắng cần nhẫn chịu, khi vợ tiêu tiền không được tiếc.

Hồi còn ở Hoa Kỳ, Giang Đông Tú nhiều lần đánh bài hăng say đến mức quên nấu cơm cho chồng. Hồ Thích không những không tức giận mà còn tự mình học nấu ăn, cuối cùng rèn luyện thành một đầu bếp giỏi. Khi gặp phải tình huống “bốn thiếu một” trên bàn mạt chược của vợ khiến vợ không thể chơi được, Hồ Thích thậm chí còn gọi điện khắp nơi để tìm “bạn mạt chược” cho bà.

Vì lý do này, Hồ Thích bị mọi người chế giễu là “vợ quản nghiêm”. Trần Độc Tú và những người bạn thân thiết khác của Hồ Thích thậm chí còn đập bàn trách mắng ông là người không có tiền đồ, không dám chống lại kiểu sắp đặt hôn nhân cổ hủ này và thúc giục ông ly hôn với vợ. Thế nhưng, Hồ Thích chỉ cười không nói lời nào, ông còn sảng khoái tự giễu rằng: mình gia nhập “Hiệp hội sợ vợ”.

Để biện minh cho chứng “sợ vợ” của mình, Hồ Thích đã thu thập những câu chuyện về việc sợ vợ từ khắp nơi trên thế giới và đưa ra một kết luận nực cười rằng: Trong tất cả các quốc gia trên thế giới, chỉ có ba quốc gia không có câu chuyện nào liên quan đến việc sợ vợ, đó là: Đức, Nhật Bản và Nga. Vì thế, các nước có chuyện sợ vợ đều là những nước tự do, dân chủ; ngược lại, các nước không có chuyện sợ vợ đều là những nước độc tài hoặc có chế độ cực quyền.

Thực ra, Hồ Thích không hẳn là “sợ vợ”, ông chỉ là cảm động và luôn khắc ghi trong lòng những gì vợ đã làm cho ông, hiểu những khó khăn của vợ và trân trọng sự thành tâm của bà. “Vì đã kết hôn rồi thì nên sống thật tốt” là yêu cầu của Hồ Thích đối với bản thân. Đó là lòng biết ơn và cũng là tình cảm sâu đậm ông dành cho vợ.

Một cuộc hôn nhân không có tình yêu, nên làm sao mới có thể bên nhau trọn đời? Hồ Thích đã cho chúng ta đáp án.

Thấu hiểu lẫn nhau và bao dung cho nhau: Giang Đông Tú không có văn hóa, Hồ Thích cũng sẽ không vì thế mà coi thường bà. Ngược lại, ông thấu hiểu, bao dung và nhường nhịn vợ. Ông đứng trên góc độ của vợ để suy xét vấn đề, và nhìn ra rất nhiều ưu điểm ở bà.

Tán thưởng và hỗ trợ lẫn nhau: Về lời khuyên của Giang Đông Tú dành cho Hồ Thích: hãy tập trung vào học thuật và không nên đi theo con đường chính trị, Hồ Thích đã từng bình luận đầy xúc động rằng: Nếu là một người phụ nữ không hiểu rõ tình thế, nhất định sẽ mong muốn có một người chồng làm quan lớn, còn mình thì trở thành vợ quan, nhưng người vợ của tôi lại khuyến khích tôi trở lại con đường học thuật. Điều đó khiến tôi thực lòng vừa áy náy vừa kính phục!

Tôn trọng và che chở lẫn nhau: Đối với việc bản thân làm trái ý nguyện của vợ và đảm nhận vị trí đại sứ nước Mỹ, Hồ Thích từng viết thư xin lỗi vợ, biểu đạt sự áy náy của mình và đồng thời cũng hứa hẹn với bà: “Đợi đến khi chiến tranh kết thúc, tôi nhất định sẽ quay lại con đường học thuật”. Giữa mỗi hàng chữ đều thể hiện ra sự tôn trọng cùng bảo hộ ông dành cho vợ.  

Một khởi đầu sai lầm chưa chắc đã không thể có được kết cục tốt đẹp. Chỉ cần mỗi người đều dụng tâm vun đắp, ngay cả một cuộc hôn nhân sắp đặt cũng có thể mang đến hạnh phúc nở hoa. 

Có lẽ, ở trong cuộc sống vụn vặt và bình lặng ấy, họ sớm đã yêu thương nhau đậm sâu. Xem ra, một cuộc hôn nhân tưởng rằng không môn đăng hộ đối lại thường ẩn giấu tình cảm mà người ngoài cuộc nhìn không hiểu, đoán không ra. Thật đúng như lời bình của Đường Đức Cương trong cuốn ‘Hồ Thích tạp ức’: “Ông ấy là vị ‘phúc nhân’ (người có phúc) cuối cùng trong chế độ hôn nhân ‘tam tòng tứ đức’ của xã hội nông nghiệp truyền thống Trung Quốc!”  

Theo Secret China
Trường Lạc biên dịch