Những từ như ‘tín ngưỡng’, ‘đạo đức’, ‘văn hoá’, thậm chí là ‘chính trị’ là những từ trừu tượng, nhưng ở đây Giáo sư Chương Thiên Lượng đã đưa ra mối quan hệ giữa các từ này, điều đó đưa đến cho chúng ta một gợi ý quan trọng chính là: muốn phục hưng dân tộc, phải phục hưng văn hoá…

Mối quan hệ giữa Tín ngưỡng, Đạo đức, Văn hoá và Chính trị

Đầu tiên Giáo sư Chương muốn giảng một chút về mối quan hệ giữa Tín ngưỡng, Đạo đức, Văn hoá và Chính trị, chúng ta có thể xem hình bên dưới.

Hình vẽ biểu thị mối quan hệ giữa Tín ngưỡng, Đạo đức, Văn hoá và Chính trị.

Đây là lý luận cá nhân của Giáo sư Chương. Giáo sư Chương cho rằng Tín ngưỡng phái sinh Đạo đức, Đạo đức phái sinh Văn hoá, trong hoàn cảnh Văn hoá mà sinh trưởng ra chế độ Chính trị. 

Vì sao lại như thế? Giáo sư Chương cho rằng, bởi vì ‘người do Thần tạo’, chúng ta lấy điều này làm ‘tiên đề’ như trong khoa học hoặc toán học để diễn giảng tiếp theo, nếu không thì những luận chứng phía sau sẽ thiếu cơ sở. 

Tín ngưỡng trong hình trên là tín ngưỡng đối với Thần, bởi vì lời dạy của Thần là bất biến, cho nên khi con người đang phán đoán tốt xấu thiện ác thì sẽ có một tiêu chuẩn bất biến. Ví như Thượng Đế đưa cho con người ’10 điều răn của Chúa’, thì quy định về thiện ác trong 10 điều răn này trở thành chuẩn tắc đạo đức của con người, đây chính là ‘Tín ngưỡng định nghĩa Đạo đức’. Nói cách khác, chính là Thần định nghĩa đạo đức; phải học tập và làm theo đạo đức mà Thần chỉ dạy, chứ không phải từ một con người nào đó.

Đương nhiên đạo đức là điều rất trừu tượng, giống như chúng ta lên giảng đường, cái gọi là ‘Nghĩa Lễ Trí Tín’, ‘Trung’, ‘Hiếu’ v.v. kỳ thực khá khó hiểu. Con người muốn lấy đạo đức mà Thần định nghĩa để truyền lại, chỉ có thể mượn một công cụ đó là văn hoá, giống như: tiểu thuyết, điện ảnh, hý kịch, thơ từ, các loại tiết mục, phương thức sinh hoạt của con người v.v. 

Điều này chính là đem ‘những giá trị đạo đức mà Thần định nghĩa’ quán xuyến trong tác phẩm văn học, thông qua phương thức kể chuyện để truyền lại giá trị đạo đức. Cũng chính là nói: Đạo đức là cơ sở để phái sinh ra Văn hoá. Văn hoá chính là đem Đạo đức mà biểu đạt một cách phổ thông và cụ thể hoá. 

Sự truyền xuất văn hoá là có mục đích, cần phải giải quyết một số vấn đề, ví như mối quan hệ giữa người với Thần, mối quan hệ giữa người với người, mối quan hệ giữa người với tự nhiên. Thế thì ‘quan hệ giữa người với người’ (trong văn hoá) liên quan đến vấn đề ‘đối xử giữa người với người’, gồm cả việc ‘xử lý việc cộng đồng’ như thế nào. ‘Xử lý việc cộng đồng’ này phái sinh ra chính trị. 

Theo cách nói của Tôn Trung Sơn, chính trị là ‘chúng nhân chi sự’ (眾人之事: việc của mọi người), chính là liên quan đến việc của mọi người, đây là chính trị. 

Do đó Giáo sư Chương mới nhìn nhận: Tín ngưỡng phái sinh ra Đạo đức, Đạo đức phái sinh ra Văn hoá, trong hoàn cảnh Văn hoá mà sinh trưởng ra chế độ Chính trị. 

ĐCSTQ phải tạo ra một bộ ‘văn hoá biến dị’ để làm điều kiện sinh tồn

Nếu chúng ta chấp nhận chuỗi logic trên, chúng ta sẽ đặt ra một vấn đề: Trong hoàn cảnh (環境: hoàn cảnh, môi trường) văn hoá truyền thống, liệu có thể sinh xuất một chế độ chính trị như ĐCSTQ hay không? Đương nhiên là không.

Bất cứ một đảng chính trị muốn chấp chính (nắm chính quyền), nó phải trả lời được vấn đề tính hợp pháp của việc chấp chính, ‘dựa vào cái gì mà bạn chấp chính?’. Thời Trung Quốc cổ đại, bạn hỏi ‘vì sao người này có thể làm Hoàng đế?’. Đáp án là ‘Quân quyền Thần thụ’ (quyền vua Trời trao), ông ấy làm Hoàng đế là do ‘Thiên mệnh tại thân’. 

Giống như Lưu Bang, Chu Nguyên Chương, những Hoàng đế khai quốc này sẽ nói ‘Thiên mệnh tại ngã’ (Thiên mệnh trên thân tôi), cho nên mới làm Hoàng đế. Vậy người kế vị thì sao? Chính là dựa vào huyết thống, ‘tôi là con Lưu Bang nên tôi làm Hoàng đế’. 

Do đó ‘Quân quyền Thần thụ’ và ‘huyết thống kế thừa’ chính là nguồn gốc tính hợp pháp cho việc chấp chính của Hoàng đế cổ đại. Còn tính hợp pháp việc chấp chính của chính phủ dân chủ có từ đâu? Chính là đến từ phiếu bầu của nhân dân. 

Nhưng nếu bạn hỏi ĐCSTQ: ‘Tính hợp pháp việc chấp chính của bạn nằm ở đâu?’. ĐCSTQ giảng ‘vô Thần luận’ nên không thể dùng ‘Quân quyền Thần thụ’ làm đáp án, nó cũng  không có quá trình tuyển cử dân chủ. Do đó ĐCSTQ chỉ có thể trả lời rằng: ‘Không được hỏi. Ta có súng’. Tính hợp pháp việc chấp chính của nó dựa vào bạo lực để trấn áp người thách thức quyền lực, nhằm duy trì quyền thống trị. 

Vì trong văn hoá truyền thống Trung Quốc và văn hoá phương tây đều không tìm thấy hoàn cảnh văn hoá để chủ nghĩa cực quyền như ĐCSTQ có thể sinh tồn; cho nên chủ nghĩa cực quyền dù xuất hiện ở đâu, nó đều phải phá hoại văn hoá bản địa. 

Khi xuất hiện ở Trung Quốc, nó phá hoại văn hoá Trung Quốc; khi xuất hiện ở phương tây, nó phải phá hoại văn hoá phương tây; nếu không, một chế độ tà ác như thế căn bản không cách nào sinh tồn.

Hình thái ý thức của ĐCSTQ hoàn toàn đối lập với văn hoá truyền thống Trung Quốc. 

  • Văn hoá truyền thống là ‘hữu Thần luận’, còn ĐCSTQ là ‘vô Thần luận’.
  • Văn hoá truyền thống giảng ‘nhân giả ái nhân’ (仁著愛人: người Nhân yêu người); ĐCSTQ giảng thù hận, đấu tranh giai cấp.
  • Văn hoá truyền thống giảng ‘Thiên Nhân hợp nhất’, ĐCSTQ giảng chinh phục tự nhiên.

Do đó hình thái ý thức của ĐCSTQ tiệt nhiên đối lập với văn hoá truyền thống, đương nhiên nó muốn sinh tồn trong môi trường văn hoá truyền thống thì không thể.

Ở đây Giáo sư Chương muốn làm rõ một vấn đề, đó là: trong một thời gian dài dưới sự mê hoặc của ĐCSTQ, có một số người không nghiên cứu sâu đối với văn hoá Trung Quốc, họ lại vô tình truyền bá lý luận xằng bậy của ĐCSTQ. Loại lý luận xằng bậy có ‘thị trường’ trong giới học thuật và cả trong dân gian, thậm chí rất nhiều người còn nói như một chân lý rằng: ‘ĐCSTQ có thể tồn tại ở Trung Quốc, bởi vì văn hoá truyền thống Trung Quốc là thổ nhưỡng (vùng đất màu mỡ) thích hợp với chế độ chuyên chế’, họ cho rằng ĐCSTQ là học từ văn hoá truyền thống.

Giáo sư Chương cho rằng: không có điều gì vô lý hơn câu này. Ở phần trước, Giáo sư Chương đã từng nói: ‘Thế nào là văn hoá truyền thống’, ‘truyền thống’ không phụ thuộc vào thời gian truyền thừa dài ngắn. Ở phương tây có Cơ Đốc giáo, cũng có Satan giáo. Nhưng hễ chúng ta nói về truyền thống phương tây, thì chính là nói về Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo; chứ không có ai nói Satan giáo là truyền thống phương tây cả. Nói cách khác, những điều Thần cấp cho con người mới là văn hoá truyền thống. Nhưng vì thế gian con người có lý ‘tương sinh tương khắc’, nên cũng có những thứ tà lưu truyền. Những thứ tà thì không nằm trong định nghĩa của văn hoá truyền thống.

ĐCSTQ có mối quan hệ với Pháp gia, nhưng chủ lưu (dòng chính) của văn hoá truyền thống tuyệt đối không phải là Pháp gia. Mọi người nếu không ngại thì hãy thử nghĩ xem: nếu văn hoá truyền thống Trung Quốc thích hợp cho việc chấp chính của ĐCSTQ, thì tại sao tổ chức này lại làm Cách mạng văn hoá? Vì sao ĐCSTQ phải phá hoại văn hoá Trung Quốc mới yên tâm? 

Sự thật đơn giản này đã nói rõ rằng: văn hoá truyền thống Trung Quốc không thích hợp cho sự sinh tồn của ĐCSTQ, nói cách khác ‘văn hoá truyền thống’ và ĐCSTQ là ‘thuỷ hoả bất dung’.

Vì sao ĐCSTQ phá hoại văn hoá truyền thống và kiến lập ‘văn hoá biến dị’?

3 bước ĐCSTQ hoại văn hoá truyền thống

Chế độ chính trị của ĐCSTQ vì để tồn tại, nó phải xây dựng một hoàn cảnh văn hoá, bộ văn hoá này gọi là ‘văn hoá biến dị’.

Nếu văn hoá truyền thống chiếm thế chủ lưu, thì văn hoá biến dị của ĐCSTQ không thể ‘đăng đường nhập thất’ (登堂入室: tiến vào), cho nên ĐCSTQ chỉ còn cách phá huỷ văn hoá truyền thống. Mà nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy được ĐCSTQ phá huỷ văn hoá truyền thống một cách vô cùng có hệ thống.

Cá nhân Giáo sư Chương tổng kết rằng: trước cải cách mở cửa (năm 1978), ĐCSTQ phá hoại văn hoá truyền thống trải qua 3 giai đoạn lớn.

Giai đoạn thứ nhất chính là huỷ diệt ‘tầng diện tín ngưỡng’, cũng chính là phá huỷ mối quan hệ giữa người và Thần. Từ năm 1949-1956, ĐCSTQ bắt đầu tiêu diệt tôn giáo, rồi kiến lập đoàn thể nguỵ tôn giáo. ĐCSTQ tiêu diệt Tam giáo Nho – Thích – Đạo, sau đó thành lập Hiệp hội Phật giáo, Hiệp hội Đạo giáo, Hiệp hội Thiên Chúa giáo, Giáo hội Ái quốc Tam tự Cơ Đốc giáo và Hiệp hội Hồi giáo. 

ĐCSTQ thông qua thao túng đoàn thể nguỵ tôn giáo để cắt đứt mối liên hệ giữa người và Thần. Đồng thời ở các trường đại học còn làm vận động cải tạo tư tưởng, chính là truyền dạy ‘Lịch sử giản lược sự phát triển xã hội’ (5 giai đoạn phát triển của xã hội), ‘Tiến hoá luận’ v.v. Đây là phá hoại văn hoá ở tầng diện tín ngưỡng.

Ở phần trước, Giáo sư Chương đã giảng Tín ngưỡng phái sinh ra Đạo đức, Đạo đức phái sinh ra Văn hoá, trong hoàn cảnh Văn hoá mà sinh trưởng ra chế độ Chính trị; do đó Tín ngưỡng là cái gốc của Đạo đức, Văn hoá và Chính trị. ĐCSTQ đầu tiên là nhổ đi cái gốc tín ngưỡng này.

Sau khi nhổ xong cái gốc tín ngưỡng, trên cơ bản đã cắt đứt mối quan hệ giữa người và Thần. Nhưng tôn giáo và đạo đức truyền thống còn thông qua phương thức văn hoá truyền thống để thâm nhập vào nhân tâm. Thế thì ĐCSTQ phải tiêu huỷ ‘người truyền thừa văn hoá truyền thống’ (phần tử tri thức), cho đến ‘tải thể của văn hoá truyền thống’ (các loại thư tịch, kinh điển, tác phẩm văn nghệ v.v.). Do đó đến năm 1957, ĐCSTQ phát động cuộc Vận động Phản cánh hữu, tiêu diệt toàn bộ phần tử tri thức. Đây là phá huỷ tầng diện thứ hai, tức phá huỷ tầng diện ‘người truyền thừa văn hoá truyền thống’.

Tầng diện thứ nhất là tầng diện giữa người và Thần, cũng chính là tầng diện tín ngưỡng; tầng diện thứ hai là tầng diện con người. Đợi đến khi 2 việc này làm xong, tầng diện thứ ba sẽ là tầng diện khí vật (器物: đồ dùng, đồ vật; ở đây chỉ những đồ vật truyền thừa văn hoá). Đây là Đại Cách mạng văn hoá từ năm 1966-1976, gồm có: Phá tứ cựu (4 cái cũ: tư tưởng, văn hoá, phong tục, tập quán), đốt sách, đập huỷ chùa miếu, đốt thư pháp thư tịch cổ xưa v.v. ĐCSTQ thông qua 3 bước này mà hoàn thành mục đích phá hoại văn hoá truyền thống.

3 giai đoạn mà ĐCSTQ phá huỷ văn hoá truyền thống.

Kiến lập bộ văn hoá biến dị

Cùng thời gian thực hiện 3 bước trên, ĐCSTQ cũng kiến lập một bộ văn hoá biến dị của riêng mình, hơn nữa cũng ra tay từ 3 tầng diện. 

Ở tầng diện tín ngưỡng, ĐCSTQ phổ biến ‘vô Thần luận’; ở tầng diện con người, ĐCSTQ nuôi dưỡng và thiết lập ‘quyền uy tri thức’, ví như những nhân vật Quách Mạt Nhược, Thích Bản Vũ (người viết cuốn ‘Nghiên cứu lịch sử vì cách mạng’) v.v.; về tầng diện khí vật, ĐCSTQ đẩy mạnh một loạt các tác phẩm nghệ thuật ca tụng Mao Trạch Đông và ĐCSTQ.

Nhớ lại giai đoạn lịch sử này, chúng ta thấy được rằng: ĐCSTQ phá hoại văn hoá truyền thống một cách vô cùng hệ thống, từ Thần (tôn giáo), đến người (phần tử tri thức), đến khí vật (văn vật cổ xưa). 

Là người nghiên cứu lịch sử và có tín ngưỡng chân chính, Giáo sư Chương đánh giá, kế hoạch nghiêm mật này chỉ có thể nói rằng: ĐCSTQ không phải là tổ chức bình thường, một người bình thường không thể làm tinh vi cẩn mật như thế, từng bước từng bước rõ ràng. Gồm cả việc nguyên nhân vì sao ĐCSTQ phát động CMVH vào năm 1966. 

Bởi vì một nhóm người phá chùa miếu là lớn lên trong hệ thống giáo dục của ĐCSTQ, họ không có chút kính sợ đối với Thần và ‘nhân quả báo ứng’, không có bất cứ cảm tình nào đối với văn hoá truyền thống, cho nên họ mới làm ra những việc phá hoại điên cuồng như thế. 

Giáo sư Chương nhìn nhận, cuối cùng nhóm người này cũng bất hạnh nhất, toàn bộ họ bị Mao Trạch Đông ‘sung quân’ đi nông thôn cải tạo. Sau khi về lại thành phố đã quá tuổi kết hôn. Đến thời cải cách mở cửa, vì không có kỹ năng sở trường nên trở thành đối tượng đầu tiên bị sa thải. 

Sau cải cách mở cửa, ĐCSTQ có nhu cầu về ngoại giao, muốn giao lưu với chính trị gia, thương nhân của các quốc gia dân chủ. Nếu lấy thơ hoặc ‘Hồng bảo thư’, tức sách đỏ quý ‘Mao ngữ lục’ – câu nói của Mao… thì không có cách nào giao lưu được, bởi vì tiêu chuẩn thị phi thiện ác đã bị đảo lộn, cho nên ĐCSTQ phải lấy lại một ít ‘văn hoá truyền thống’.

Thế là sau cải cách mở cửa năm 1978, ĐCSTQ bắt đầu khôi phục một số thứ văn hoá trên bề mặt. Khi cựu tổng thống Mỹ là Clinton đến thăm Trung Quốc, phi trường đầu tiên ông dừng chân không phải ở Bắc Kinh, mà là ở thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Tại sao? Bởi vì ông muốn đến thăm ‘đội quân đất nung’ của Tần Thuỷ Hoàng. Từ đây thấy rằng, văn hoá truyền thống Trung Quốc có sức hấp dẫn vô cùng lớn. 

Do đó ĐCSTQ bắt đầu sửa sang khôi phục một ít tầng diện văn hoá, trùng tu lại những chùa miếu đã đập trong quá khứ. Nhưng ĐCSTQ đã huỷ đi nội hàm văn hoá. Chùa miếu trong quá khứ là nơi người đến bái Phật, tu Phật, thể hiện lòng tôn kính đến Thần Phật, là trường sở (chốn) tu hành thanh tịnh. Nhưng hiện nay ĐCSTQ tu sửa những ngôi chùa Phật giáo cho thật đẹp, để biến thành thắng địa du lịch, thu vé vào cửa, mua bán sản phẩm; chính là đã phá huỷ nội hàm văn hoá và tu luyện. 

Điều này dẫn đến việc rất nhiều người phàn nàn rằng: đến Thiếu Lâm Tự không thắp nổi một nén hương. ĐCSTQ đã biến tự viện thành nơi kiếm tiền, biến tôn giáo thành thực thể làm ăn.

Phương trượng Thiếu Lâm Tự là Thích Vĩnh Tín chính là một ‘đại phú hào’, vô cùng giàu có. Hoà thượng quá khứ xuất gia là ‘tứ đại giai không’, dựa vào khất thực làm sinh kế. Nhưng Thích Vĩnh Tín lái xe thể thao hạng sang, ở trong biệt thự lộng lẫy, lên mạng lướt web v.v. Ông không giống một phương trượng, mà giống một CEO của Thiếu Lâm Tự.

Sau cải cách mở cửa, ĐCSTQ khôi phục những thứ biểu hiện của văn hoá nhưng lại huỷ đi nội hàm. Sau này thông qua phương thức kiểm duyệt văn hoá, phong toả internet, ‘ngũ mao đảng’ (đội quân 50 xu) v.v. để tiếp tục kiến lập và duy trì bộ ‘văn hoá ĐCSTQ’. 

Đương nhiên đối với những đoàn thể đang ngày đêm cố gắng khôi phục văn hoá truyền thống Trung Hoa chân chính như Đoàn Nghệ thuật Thần Vận, thì ĐCSTQ ra sức nghĩ biện pháp can nhiễu. ĐCSTQ tuyệt đối không muốn ‘những người hiểu văn hoá truyền thống chân chính’ phục hưng văn hoá truyền thống rồi đem về nước (Trung Quốc). Nếu văn hoá truyền thống Trung Quốc có thể phục hưng, môi trường văn hoá biến dị cần thiết cho sinh tồn của ĐCSTQ sẽ không còn nữa.

***

Thế là 15 bài của loạt ‘Trung Hoa văn minh sử’ mà Giáo sư Chương cho xem miễn phí đã kết thúc ở đây. 

7 bài đầu (từ bài 1 đến bài 7) Giáo sư Chương Thiên Lượng đứng ở ngoài mà nhìn văn minh Trung Hoa, chia sẻ về các nền văn minh tiền sử, sai lầm của ‘Tiến hoá luận’, góc nhìn và phương pháp nghiên cứu lịch sử v.v. nhưng điều cốt lõi chính là: văn minh Trung Hoa là văn minh Thần truyền, để đặt định cho một sự kiện sau này. 

Còn 8 bài sau (từ bài 36 đến bài 43), Giáo sư Chương chia sẻ tư tưởng của Pháp gia. Nếu hiểu được Pháp gia, chúng ta sẽ hiểu được cách suy nghĩ của ĐCSTQ và chủ nghĩa cực quyền, từ đó có được những phán đoán chính xác trong tương lai. 

Giáo sư Chương đã chia sẻ 15 bài miễn phí, đầu tiên chúng ta xin nhận và gửi lời cảm ơn chân thành đến Giáo sư Chương, mong rằng Giáo sư Chương sẽ có nhiều sản phẩm văn hoá hay hơn nữa. 

Nói về cuốn ‘Trung Hoa văn minh sử’, đây là kết tinh 20 năm suy nghĩ cẩn thận của Giáo sư Chương về văn minh Trung Hoa, đồng thời cũng là tài liệu giảng dạy ở Đại học Phi Thiên, Giáo sư Chương lấy ra phần đại chúng có thể liễu giải để xuất bản cuốn sách. 

Những điều trong sách mang tính học thuật và hơi khó tiếp thu hơn bình thường, nhưng về cơ bản Giáo sư Chương giảng rất rõ ràng và dễ hiểu, dùng lượng lớn câu chuyện để lý giải những điều cao thâm. 

Thêm vào đó, Giáo sư Chương từng nói rằng: nếu đọc hiểu được cuốn sách này, thì có thể phân tích được các vấn đề thời sự hiện nay. Đây cũng là một điểm rất thú vị của cuốn ‘Trung Hoa văn minh sử’.

Do đó nếu độc giả nào biết tiếng Trung và có hứng thú với văn minh Trung Hoa thì có thể tìm đọc cuốn sách này (liên kết mua sách điện tử trên trang ‘Liên minh Thiên Lượng‘, hoặc sách giấy trên ebay). 

Bản tiếng Anh thì dịch đã xong, đang trong giai đoạn rà soát lỗi lại, trong thời gian tới sẽ xuất bản. Có độc giả cũng hỏi bản tiếng Việt, nhưng Giáo sư Chương nói chưa có người làm, còn nếu làm thì giống như ‘việc công ích’ đóng góp cho xã hội. Nhưng dù thế nào thì ít nhất chúng ta đã có 15/72 tập đã dịch sang tiếng Việt, quý độc giả có thể từ từ thưởng thức. 

Mạn Vũ

Chú thích:
(*) Link Trung Hoa văn minh sử tập 43.

(**) Ảnh trong bài chụp từ Trung Hoa văn minh sử tập 43.
(***) Phái sinh: từ một gốc phát triển ra, giống như nhánh cây. Còn ‘phát sinh’ là phát triển từ một gốc mới hoàn toàn.