Khi Đạt Ma chèo thuyền vượt biển đến Trung Thổ, ông đã gặp Lương Vũ Đế Tiêu Diễn. Bản thân Lương Vũ Đế là người tín Phật, nhân một cao tăng từ Thiên Trúc đến, Lương Vũ Đế đã hỏi: “Trẫm sau khi kế vị đã xây tự miếu, in Phật Kinh, cúng tăng lữ, làm nhiều việc như thế, hỏi có công đức bao nhiêu?”. Đạt Ma nói: “Một chút công đức đều không có”.

Đây là một đoạn đối thoại rất thú vị, tại sao Lương Vũ Đế làm nhiều Phật sự như vậy mà Đạt Ma nói rằng không có công đức? Rốt cuộc có đạo lý gì ở đằng sau câu chuyện này?

Lương Vũ Đế sùng tín Phật Pháp

Lời bạch: Từ năm 446 đến 452 đã xảy ra sự kiện diệt Phật của Bắc Nguỵ, đây là pháp nạn lần thứ nhất của Phật giáo khi truyền nhập vào Trung Quốc. Người tham dự diệt Phật là Thác Bạt Đảo và Thôi Hạo đều gặp phải ác báo.

Năm 452, Văn Thành Đế Thác Bạt Tuấn kế vị, Phật giáo phương bắc lại bắt đầu hưng thịnh trở lại, còn tình huống phát triển của Phật giáo phương nam như thế nào? 

Giáo sư Chương Thiên Lượng giảng, ban đầu Phật giáo ở phương nam phát triển tương đối chậm rãi. Vào thời chính quyền Lưu Tống cũng phát triển khá chậm. Đến chính quyền Tiêu Tề (triều Tề do Tiêu Đạo Thành sáng lập) từ năm 479 đến năm 502, trong thời gian 23 năm này chính quyền Tiêu Tề hoán đổi 7 vị Hoàng đế, cho nên mọi người sẽ thấy chính quyền này vô cùng không ổn định, về mặt chính trị cũng không có gì để nói.

Đến năm 502, chính quyền triều Tề bị một người cùng tộc của Tiêu Đạo Thành là Tiêu Diễn thay thế, kiến lập triều Lương. Tiêu Diễn chính Lương Vũ Đế vô cùng nổi tiếng trong lịch sử.

Tranh vẽ Lương Vũ Đế Tiêu Diễn.

Lương Vũ Đế là người văn võ toàn tài, ông không chỉ biết cưỡi ngựa bắn cung; ông viết văn chương, thơ từ cũng rất tốt; hơn nữa về trị lý quốc gia, ông cũng có một bộ biện pháp, cho nên vào những năm đầu thời Lương Vũ Đế, quốc gia đã xuất hiện cảnh tượng vô cùng thái bình phồn vinh. 

Bản thân Lương Vũ Đế có cuộc sống vô cùng tiết kiệm, sau này ông bắt đầu tín Phật. Sau khi tín Phật, Lương Vũ Đế sinh hoạt càng giản tiện hơn nữa, ông đội một cái mũ trong 3 năm, dùng chăn giường trong 2 năm. Hơn nữa, chúng ta biết rằng, Tiểu thừa Phật giáo có một giới luật hoặc truyền thống gọi là ‘quá ngọ bất thực’ (過午不食), tức là qua 12h trưa thì không ăn nữa. Thời đó Phật Thích Ca Mâu Ni dẫn đệ tử đi xin ăn, buổi sáng xin ăn, đến trưa ăn, sau buổi trưa thì không ăn nữa. Lương Vũ Đế dù là Hoàng đế nhưng vẫn tuân thủ làm theo truyền thống ‘quá ngọ bất thực’. Nếu ông quá bận, xử lý quốc gia đại sự, có lúc còn quên thời gian ăn trưa, như thế cả ngày không ăn gì cả. 

Vấn đề chính của Lương Vũ Đế: không sắp xếp rõ ràng quan hệ giữa Hoàng đế và tăng nhân

Bản thân việc sùng tín Phật Pháp không phải là vấn đề lớn, nhưng vấn đề của Lương Vũ Đế là ông sắp xếp không rõ ràng việc: Hoàng đế trị lý quốc gia hay là một tăng nhân từ bi không sát sinh. Bởi vì nếu muốn trị lý quốc gia, thông thường việc áp dụng bản án tử hình nằm trong tay Hoàng đế. Nếu mang một tâm thái tăng nhân để đối đãi với kẻ phạm tội, thông thường là không muốn đưa án tử hình. Nhưng vì để duy trì bảo hộ sự công chính (公正: công bằng chính nghĩa) của xã hội, tử hình là một biện pháp không thể tránh.

Lương Vũ Đế không sắp xếp cho chính mối quan hệ này, cho nên sau khi ông tín Phật, việc quản lý chính trị của ông càng ngày càng lỏng lẻo. Ví như có người phạm đại tội mưu phản, trong quá khứ là diệt tộc, thì Lương Vũ Đế chỉ trách phạt qua loa, thậm chí còn thăng quan cho người này một chút. Do đó vào những năm cuối thời Lương Vũ Đế đã không có một tiêu chuẩn sát hạch cho việc thăng chức nhân sự, chính là vì ông vô cùng khoan hậu.

Nhưng loại khoan hậu này mang đến vấn đề, chính là một người làm việc xấu không bị báo ứng, cho nên dẫn đến việc rất nhiều người hoành hành ngang ngược, họ nghĩ rằng dù thế nào thì Lương Vũ Đế cũng không trừng phạt họ. Thêm nữa là vấn đề rất nhiều người xuất gia làm tăng nhân.

Vào thời Lương Vũ Đế, do bản thân ông là người tín Phật, nên rất nhiều người xuất gia. Bởi vì hễ gia nhập vào tăng đoàn, sẽ không nộp thuế; cho nên rất nhiều người ‘ham ăn biếng làm’, hoặc là người đã phạm tội muốn tránh truy nã của quan phủ… họ đều chạy đến chùa xuất gia. 

Thời ấy toàn quốc có khoảng một nửa nhân khẩu đều trở thành tăng nhân, như thế họ không cần nộp thuế, điều này dẫn đến tài chính của quốc gia bị tổn hại nghiêm trọng. Những người này không phải muốn quy y Tam bảo, không phải thật sự sùng tín Phật giáo hoặc muốn tu luyện, mà chỉ là muốn trốn ở đó để hưởng cảnh thanh tịnh, hoặc là người ‘ham ăn biếng làm’.

Cuộc đối thoại thú vị giữa Đạt Ma và Lương Vũ Đế: ‘Công án’ (ẩn đố) của Thiền Tông

Vào năm Phổ Thông thứ 7 thời Lương Vũ Đế, tức năm 526, có một tăng nhân từ nước Hương Chí thuộc Thiên Trúc đã chèo thuyền vượt biển đến Quảng Châu, Trung Quốc. Người này là Đạt Ma vô cùng nổi tiếng trong lịch sử, sau này ông là sơ tổ (vị tổ đầu tiên) của Thiền Tông Thiếu Lâm Tự. 

Khi Đạt Ma đến Quảng Châu, có người đã báo cáo Lương Vũ Đế, Lương Vũ Đế rất cao hứng. Vào năm thứ hai, tức năm 527, Lương Vũ Đế đã mời Đạt Ma đến đô thành Kiến Khang. Khi đó Đạt Ma và Lương Vũ Đế đã có một đoạn đối thoại vô cùng thú vị. Đoạn đối thoại này là một ‘công án’ (公案: ẩn đố) nổi tiếng của Thiền Tông.

Lương Vũ Đế hỏi: “Trẫm sau khi kế vị đã xây tự miếu, in Phật Kinh, cúng tăng lữ, làm nhiều việc như thế, hỏi có công đức bao nhiêu?”.

Đạt Ma trả lời: “Một chút công đức cũng không có, đây đều là những việc hữu lậu, giống như bóng ảnh không thực. Công đức chân chính là trí huệ ‘thanh tĩnh viên diệu’, ngài căn bản không thể thông qua phương pháp thế tục mà đắc được”.

Đoạn đối thoại rất thú vị giữa Đạt Ma và Lương Vũ Đế.

Giải mã câu trả lời của Đạt Ma

Lời bạch: Trong thời gian 10 năm chấp chính của Lương Vũ Đế thời Nam triều, thì giáo dục phát triển, quốc gia phồn vinh. Do Lương Vũ Đế dốc lòng sùng tín Phật giáo, đã xây tự miếu, in Phật Kinh, cúng tăng lữ, khiến Phật giáo ở phương nam phát triển trên quy mô cực lớn.

Lương Vũ Đế đã làm rất nhiều sự việc, nhưng Đạt Ma lại nói “Một chút công đức cũng không có”. Rốt cuộc vì sao lại như vậy?

Đoạn lời Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma làm Giáo sư Chương nhớ đến một câu chuyện vô cùng nổi tiếng trong Phật giáo.

Trưởng giả Tu Đạt cúng dường vườn Cấp Cô Độc, sau này chỉ đạt quả vị trong Tam giới

Khi đó Phật Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp ở Ấn Độ, ban đầu vẫn chưa có tự miếu (寺廟: chùa chiền), mà chỉ là dẫn dắt đệ tử ở trong rừng rậm hoặc sơn động để thanh tu. 

‘Tự’ (寺) mà chúng ta biết hiện nay là nơi hoà thượng ở, nhưng trên thực tế từ này là một danh từ ở vùng Hán địa.

Vào thời Hán, Tự có nghĩa là ‘quan thự’ (官署), chính là nơi quan lại làm việc. Ví như nói nơi chưởng quản (掌管: nắm giữ quản lý) giáo dục gọi là Thái Thường Tự, chưởng quản hình phạt và xử án gọi là Đại Lý Tự, chưởng quan công tác ngoại giao gọi là Hồng Lô Tự. Trên thực tế ‘Tự’ có nghĩa là ‘quan thự’, nơi quan lại làm việc.

Vào thời nhà Hán, ‘Tự’ (寺) là nơi quan lại làm việc.

Đến khi Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc, tương đương với việc cho tăng nhân một nơi ở, giống nhà công vụ của doanh nghiệp xây để mọi người làm việc, cho nên mới gọi nơi ở của tăng nhân là ‘Tự’. Tự miếu đầu tiên của Trung Quốc là Bạch Mã tự (chùa Bạch Mã).

Khi Thích Ca Mâu Ni truyền pháp, thì chưa có khái niệm tự miếu. Vào những năm cuối của thời đại Thích Ca Mâu Ni, có một số người vì muốn truyền bá Phật Pháp, muốn cấp cho Phật Thích Ca Mâu Ni một nơi an định, vừa có thể thanh tu, vừa thuận tiện cho hoá duyên. Những nơi này không thể cách quá gần, cũng không thể cách quá xa thành thị; bởi vì buổi sáng ngài đi hoá duyên, không thể cách quá xa, cũng không thể cách quá gần vì ồn ào huyên náo, không thích hợp cho thanh tu.

Vì thế vào thời ấy có một thương nhân nhiều tiền ở Xá-vệ quốc (nước Xá-vệ) tên là Tu Đạt muốn nghênh đón Phật Thích Ca Mâu Ni về nước Xá-vệ, ông bèn tìm kiếm vùng phụ cận đô thành một mảnh đất, sau này tìm được một đại hoa viên (vườn hoa lớn). Hoa viên này cách thành thị chỉ 1-2 cây số, vô cùng thuận tiện, hơn nữa hoa viên này rất đẹp. 

Chủ nhân của hoa viên này là một vương tử tên là Ba Tư Nặc Vương. Tu Đạt nói với Ba Tư Nặc Vương này rằng: ‘Tôi muốn bỏ tiền mua hoa viên này của anh để cúng dường Phật’. Bản thân Ba Tư Nặc Vương cũng là người rất nhiều tiền, căn bản không nghĩ đến số tiền của thương nhân Tu Đạt. Ba Tư Nặc Vương nói: ‘Ta có nhiều tiền như thế này, vườn này là nơi ta thường xuyên du ngoạn, ta không bán cho ông’. Ba Tư Nặc Vương cười rồi nói tiếp: ‘Trừ phi ông đem vàng lót hết hoa viên này, ta mới bán cho ông’.

Ba Tư Nặc Vương nói vui nhưng Tu Đạt lại tưởng thật, thế là Tu Đạt bán hết toàn bộ gia tài đổi thành vàng, sau đó bắt đầu lót vàng trong vườn; cuối cùng vẫn còn thiếu một góc, vì tiền không đủ nên cũng không thể mua thêm. Nhưng hành động của trưởng giả Tu Đạt đã làm cảm động vị Vương tử. Vương tử nói: ‘Ông đã tiêu số tiền lớn như thế, tương đương với việc bán toàn bộ gia sản để cúng Phật, xem ra Phật là một người khiến người ta rất sùng kính. Thế này, tôi sẽ bán khu vườn này cho ông, vườn này coi như là cúng dường của ông, còn cây cối hoa cỏ trong vườn coi như là cúng dường của tôi’.

Vào những năm cuối của thời Phật Thích Ca Mâu Ni, đại khái khoảng 20 năm, ngài đều ở hoa viên này, đây gọi là vườn Cấp Cô Độc, cũng gọi là Kỳ Viên tịnh xá (祗園精舍: Tịnh xá Kỳ Viên, có bản dịch là Tịnh xá Chi Viên). Chúng ta thấy trong rất nhiều kinh thư đều là Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp ở nơi này; ví như bắt đầu của ‘Kinh Kim cương là: Phật tại nơi này giảng điều gì gì đó v.v.

Tu Đạt với lòng thành lớn như thế, đưa Phật Thích Ca Mâu Ni đến vườn Cấp Cô Độc để thanh tu, nhưng Tu Đạt đã đạt được quả vị gì? Theo ghi chép của ‘Tạp A Hàm kinh’, Tu Đạt đã đạt được quả vị A Na Hàm. Đây chỉ là quả vị trong tam giới, không phải là chính quả xuất khỏi khỏi tam giới. 

Do đó chúng ta thấy rằng, chỉ dựa vào làm những việc hữu vi như in Phật Kinh, tạo Phật tượng, cúng tăng lữ, xây tự miếu… dựa vào những điều này căn bản không đạt được viên mãn, bởi vì những việc này có thể dùng tiền mà làm được. 

Chúng ta biết rằng rất nhiều người có tiền, có quyền thế, đã từ bỏ vương vị để xuất gia tu hành, việc này có rất nhiều ở thời Trung Quốc cổ đại. Bản thân Thích Ca Mâu Ni vốn dĩ là một vương tử, sau này gồm cả vương tử nước An Tức (tức vương tử An Thế Cao của Ba Tư), vương tử nước Hương Chí là Đạt Ma… họ đều từ bỏ vương vị để xuất gia tu hành.

Nếu chỉ tiêu tiền mà có thể đạt được, thì những vương tử này hà tất phải từ bỏ vinh hoa phú quý? Cho nên nhiều người cho rằng ‘tôi tốn ít tiền để xây chùa’, có cảm giác như họ đang làm ăn với Phật, ‘tôi xây chùa thì Phật bảo hộ tôi’.

Là người có tín ngưỡng chân chính, Giáo sư Chương cho rằng đạo lý tu luyện chân chính kỳ thực rất đơn giản, nhưng trong quá trình tu luyện phải chịu rất nhiều khổ. Giáo sư Chương nhớ lại, hồi còn học đại học, khi đoạn đối thoại giữa Đạt Ma và Lương Vũ Đế thì không hiểu, bởi vì lúc đó Giáo sư Chương chưa tu luyện. Sau này đến khi tu luyện, Giáo sư Chương đọc cuốn ‘Chuyển Pháp Luân‘, trong mục đầu tiên của bài đầu tiên đã có một đáp án vô cùng đơn giản và minh xác về vấn đề này. Nếu khán giả hay độc giả nào có hứng thú thì có thể tự mình tìm hiểu thêm.

Quay trở lại câu chuyện của Lương Vũ Đế Tiêu Diễn, Giáo sư Chương nói thêm, cuối cùng Lương Vũ Đế cũng không hiểu Đạt Ma nói gì, cho nên Đạt Ma cho rằng Lương Vũ Đế không biết được chính pháp, thế là Đạt Ma rời đô thành Kiến Khang, vượt qua Trường Giang để đến Bắc Nguỵ. 

Khi Đạt Ma qua sông, trong truyền thuyết nói rằng ông dùng một cọng lau để qua sông Trường Giang, từ đó lưu lại truyền thuyết ‘Nhất vĩ độ giang’ (一葦渡江: một cọng lau vượt sông).

Tranh vẽ Đạt Ma và truyền thuyết ‘Nhất vĩ độ giang’ (一葦渡江: một cọng lau vượt sông).

Sau khi vượt sông, Đạt Ma tiếp tục đi về phía bắc, một mạch đi đến phụ cận của núi Tung Sơn, thời ấy là đô thành của Bắc Nguỵ, còn nay là phụ cận của Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Trong một hang động của núi Tung Sơn (gần Lạc Dương), Đạt Ma đã ‘Diện bích cửu niên’ (面壁九年: quay mặt vào đá 9 năm). Sau 9 năm, toàn bộ hình tượng của ông in lên vách đá đối diện, vách đá lúc ấy rất trơn nhẵn. Chúng ta hiện nay thấy được hình tượng của Đạt Ma chính là từ vách đá ấy mà vẽ lại. 

Sau khi Đạt Ma sáng lập Thiền Tông, thì tổ đình của Thiền Tông chính là Thiếu Lâm Tự. Sau này có một số tông sư của Thiền Tông lại di chuyển lên Hồ Bắc, hoặc đi xuống vùng Quảng Đông. Lục tổ Huệ Năng của Thiền Tông chính là giảng pháp ở Quảng Đông, sau khi viên tịch thì ‘nhục thân bất hoại’, hiện nay vẫn còn ở chùa Hoa Nam ở Quảng Đông. Nếu khán giả hay độc giả nào có hứng thú thì có thể đến xem ‘nhục thân bất hoại’ của Lục tổ Huệ Năng.

Khi Lương Vũ Đế làm Hoàng đế ở phương nam, thì ở phương bắc đã xảy ra Lục trấn phản loạn (6 trấn phản loạn). Quá trình khi phương bắc có đại loạn, thì đây là một cơ hội rất tốt cho Lương Vũ Đế. Nếu lúc ấy ông bắc phạt, rất có thể thống nhất được Trung Quốc. 

Nhưng khi ấy Lương Vũ Đế đã sùng tín Phật Pháp, cho nên không còn cái tâm tiến thủ, đồng thời ông còn có một tâm lý kiêu hãnh. Lương Vũ Đế tính dùng hàng binh và hàng tướng (binh tướng đã đầu hàng) của phương bắc để dẫn đường, sau đó thống nhất phương bắc. Nói cách khác, ông muốn dùng người phương bắc để thống nhất phương bắc, đây gọi là ‘dĩ Di trị Di’ (以夷治夷: lấy người tộc Di trị người tộc Di), như thế cái giá của ông phải trả tương đối nhỏ. 

Kết quả ông không những không hoàn thành việc thống nhất phương bắc, mà còn chiêu mời phản tướng của phương bắc. Phản tướng phương bắc này đã dẫn khởi một kiếp nạn văn hoá cự đại cho phương nam. Đây rốt cuộc là kiếp nạn gì, thì trong tập sau Giáo sư Chương sẽ giảng, nhưng những tập tiếp theo đó không còn là tập miễn phí, cho nên nếu quý độc quả nào quan tâm có thể đăng ký thành viên trang mạng ‘Thành trì hy vọng’ để tiếp tục xem loạt bài này và các sản phẩm văn hoá của Giáo sư Chương.

Mạn Vũ

Chú thích:

(*) Link ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 4: Diệt Phật hưng Phật.

(**) Ảnh trong bài chụp từ ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 3 tập 4.

(***) Trong loạt Tuỳ Đường thịnh thế, Giáo sư Chương còn cho xem một tập miễn phí nữa là tập 26: Tây hành cầu Pháp, nói về Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh kinh. Chúng tôi sẽ sớm gửi đến quý độc giả.