Mục lục bài viết

Hãy để con trẻ chú tâm vào “làm việc” nhiều hơn thay vì tự dán nhãn cho mình, như vậy sẽ giúp trẻ nâng cao năng lực tập trung và hành động. Bởi điều đi theo suốt cuộc đời con trẻ không phải là thành tựu nhất thời, mà là “tư duy trưởng thành”.

01

“Ngôn ngữ” có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách của một con người.

Đặc biệt đối với những đứa trẻ chưa hoàn thiện về nhân cách, những khác biệt tinh tế về ngôn ngữ mà cha mẹ sử dụng đều có thể vô tình tạo thành ảnh hưởng hoàn toàn trái ngược đến tâm lý và nhân cách của trẻ.

Việc “khen con chăm chỉ” và “khen con thông minh” cũng như vậy. Bản chất khác biệt giữa hai điều này là, cái trước là thiên về làm việc, cái sau là thiên về làm người.

Khi bạn khen trẻ làm việc chăm chỉ, con bạn tập trung vào làm việc hơn, tâm chấp trước vào kết quả sẽ giảm đi. Khi bạn khen trẻ thông minh, con trẻ sẽ đặc biệt quan tâm đến sự đánh giá của mọi người, và trẻ sẽ rất chấp trước vào kết quả.

Trước đó, khi nhận xét về thảm kịch cậu bé 17 tuổi nhảy cầu vì bị điểm kém, tôi đã đưa ra quan điểm này:

Cách tốt nhất để trẻ nâng cao khả năng phục hồi và sự tự tin không phải là nói đạo lý, mà không ngừng để trẻ trải nghiệm thành công trong chu trình “khắc phục khó khăn – gặt hái được thành công – khắc phục khó khăn – gặt hái được thành công”.

Khả năng phục hồi và sự tự tin là một dạng năng lực bên trong mà không thể có được từ bên ngoài, và cần được trẻ xây dựng dần dần thông qua những trải nghiệm thành công của bản thân.

Điều cha mẹ cần làm nhất không chỉ là giảng đạo lý, mà là tạo ra một môi trường để cho trẻ có thể tiếp tục thành công.

Như vậy, khi chúng ta quay trở lại vấn đề về sự khác biệt giữa việc  “khen trẻ chăm chỉ” và “khen trẻ thông minh”, chúng ta sẽ dễ dàng tìm ra ưu điểm và nhược điểm của hai điều này.

Khi bạn khen trẻ làm việc chăm chỉ, trẻ tập trung vào mục đích “Con cần phải chăm chỉ”, còn khi bạn khen trẻ thông minh, trẻ tập trung vào kết quả “Con cần phải thông minh”.

Cái nào dễ có được thành công hơn? Rõ ràng là cái trước.

Sự chăm chỉ không chỉ giúp trẻ dễ đạt được mục đích hơn, mà còn cải thiện khả năng tập trung và khả năng làm việc của trẻ. Chúng sẽ không vì sợ kết quả thất bại mà chịu bó tay bó chân, vì bản thân “hành động” đã có nghĩa là thành công.

Cái mác “thông minh” này không chỉ khiến đứa trẻ càng khó đạt được, mà còn phải duy trì thông qua việc thành công liên tục; đừng nói trẻ nhỏ, với bất kỳ ai cũng đều rất khó mà làm được.

“Khen trẻ thông minh” sẽ không cho phép trẻ trải nghiệm nhiều thành công hơn, mà thêm nhiều “cảm giác thất bại” hơn.

Khi một đứa trẻ vì hai hoặc ba lần thất bại mà sinh ra tâm lý phủ nhận bản thân, đứa trẻ sẽ tự cường hóa cảm xúc phủ nhận bản thân, rằng  “mình không thông minh chút nào”, và chúng ngày càng trở nên tự ti hơn.

Ảnh: Freepik.

02

Trong trường đại học ở New York có một nghiên cứu như vậy.

Người nghiên cứu đã tìm 139 trẻ từ 4 – 5 tuổi và chia chúng thành hai nhóm. Nhóm đầu tiên được gọi là “nhóm thừa nhận” – giáo viên sẽ sử dụng ngôn ngữ ám thị bọn trẻ phải là “người thích giúp đỡ người khác”. Nhóm thứ hai được gọi là “nhóm hành động” – giáo viên chỉ khuyến khích bọn trẻ làm một việc.

Bạn có nhận thấy sự khác biệt không? Đúng, chính là những gì chúng tôi đã nói trước đó.

Nhóm thứ nhất tương tự như khen trẻ thông minh và yêu cầu trẻ tập trung vào việc “làm người”; trong khi nhóm thứ hai tương tự như khen ngợi trẻ chăm chỉ và yêu cầu trẻ tập trung vào “làm việc”.

Tuy nhiên, tuyệt đối đừng nghĩ rằng khen con thông minh là hoàn toàn vô dụng, kỳ thực nó cũng có hiệu ứng tích cực.

Ví dụ, nếu một chiếc bút bị rơi xuống đất, nếu yêu cầu trẻ nhặt nó lên, khi đó những trẻ trong nhóm thừa nhận sẵn lòng đi làm hơn. Cái mác “người thích giúp đỡ người khác” thật sự có ảnh hưởng tích cực đến chúng, khiến chúng sẵn lòng giúp đỡ người khác hơn.

Giống như bạn khen trẻ thông minh, tất nhiên trẻ sẽ cảm thấy được khẳng định mà xây dựng lòng tự tin, và càng nguyện ý tiếp tục hành động để được khẳng định nhiều hơn.

Nhưng, điểm mấu chốt đã đến: Nếu con trẻ đụng phải thất bại, kết quả sẽ hoàn toàn khác.

Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu yêu cầu trẻ thu dọn một chiếc hộp trên bàn làm việc. Chuyên gia sẽ cố tình “gây rối” và tạo ra một vài chướng ngại trong quá trình này.

Ví dụ, nhóm nghiên cứu sẽ cho rất nhiều quả bi vào trong hộp đó, nhưng đáy hộp đã bị vỡ trước đó, khi đứa trẻ vừa cầm chiếc hộp, thì các viên bi sẽ rơi vãi xuống sàn. Hoặc là bảo trẻ cất một món đồ chơi đi, nhưng thực chất món đồ chơi đó đã bị gãy khung, khi trẻ vừa chạm vào thì nó liền bị hỏng ngay.

Mục đích của nhóm nghiên cứu chính là để trẻ nếm mùi thất bại. Và những đứa trẻ không biết trước điều này sẽ phản ứng thế nào?

Đối với trẻ nằm trong “nhóm được thừa nhận” mà nói, chúng sẽ nghĩ, chúng nguyên là muốn đến giúp đỡ, nhưng kết quả lại làm hỏng việc. Loại cảm giác thất vọng này thật tệ hại, nó sẽ vì bản thân không hoàn thành nhiệm vụ mà không thể trở thành “người luôn thích giúp đỡ người khác” như lời thầy cô gợi ý, tuy hai cái này không có mối liên hệ tất yếu, nhưng vì tâm trí của trẻ vẫn chưa trưởng thành, thành ra rất dễ rơi vào lối tư duy “tình trạng tiến thoái lưỡng nan giả”, vậy nên sẽ vô thức liên hệ “thất bại” với “người không thích giúp đỡ người khác”.

Vậy thì, sau khi trải qua một lần thất bại như vậy, nhóm nghiên cứu đã yêu cầu hai nhóm trẻ hoàn thành một nhiệm vụ khác khó hơn một chút, tính tích cực của bọn trẻ trong “nhóm được thừa nhận” hoàn toàn không được như “nhóm hành động”, hầu hết các em xung phong nhận việc đều là bọn trẻ trong nhóm hành động.

Khi các nhà nghiên cứu hỏi những đứa trẻ trong “nhóm được thừa nhận” không xung phong  giúp đỡ rằng, “con có phải là người thích giúp đỡ người khác không?”. Nhận thấy khả năng tự đánh giá của những đứa trẻ này cũng thấp hơn đáng kể.

Ngược lại, những đứa trẻ thuộc nhóm hành động, tại sao tính tích cực và lòng tự tin của chúng vẫn không bị ảnh hưởng sau khi hành động thất bại? Đó là vì đối với nhóm hành động mà nói, giáo viên chỉ khuyến khích chúng “làm việc”, giáo viên không chỉ dùng ngôn ngữ ám thị họ, mà bản thân hành động đã là thành công, nên “thất bại của kết quả” căn bản sẽ không làm tổn hại đến lòng tự tin của chúng. 

Ảnh: Freepik.

03

Trên thực tế, đã có không ít thí nghiệm tương tự.

Cha mẹ biết rằng giáo dục con cái cần dựa trên sự khuyến khích, nhưng cụ thể cần phải làm sao? Rất nhiều bậc cha mẹ vẫn chưa suy nghĩ và thực hành cách khen con, cách khích lệ con, những tín hiệu cha mẹ gửi đến con như thế nào là hiệu quả nhất.

Carol S. Dweck, một nhà tâm lý học xã hội tại Đại học Stanford, Hoa Kỳ, đã thực hiện một loạt thí nghiệm kinh điển giữa 400 học sinh lớp 5 ở New York.

Mở đầu, bà Dweck sẽ phát cho mỗi em một bộ câu hỏi kiểm tra khá đơn giản. Sau đó, nhà nghiên cứu sẽ cho trẻ biết điểm số và kèm theo một lời khen ngợi gồm sáu từ. Một nửa số trẻ nhận được “Chắc chắn con rất thông minh”, và nửa còn lại nhận được “Chắc chắn con rất cố gắng”.

Sau đó, bà Deweck yêu cầu bọn trẻ làm bài kiểm tra thứ hai. Trong bài kiểm tra này, trẻ có thể tự do lựa chọn độ khó của các câu hỏi kiểm tra. Kết quả là 90% trẻ được khen vì “đã rất cố gắng” chọn câu khó hơn. Hầu hết các em được khen thông minh đều chọn những câu hỏi đơn giản.

Sau đó, bà Deweck sắp xếp một bài kiểm tra lần thứ 3. Lần này, không có sự lựa chọn nào về độ khó của các câu hỏi kiểm tra, và chúng đều rất khó. Không có gì ngạc nhiên khi tất cả những đứa trẻ đều thất bại. Tuy nhiên, giống như thí nghiệm mà chúng tôi đã đề cập trước đó, hai nhóm trẻ phản ứng hoàn toàn khác nhau khi phải đối mặt với cùng một kết quả thất bại.

Những đứa trẻ trong “nhóm cố gắng” vẫn đủ dũng khí để thử thách những vấn đề khó khăn và thử nhiều giải pháp khác nhau để giải quyết vấn đề; trong khi những đứa trẻ trong “nhóm thông minh” dường như bị đánh bại, tinh thần sa sút và tỏ ra chán ghét, sợ hãi vấn đề khó khăn.

Bà Deweck phân tích rằng, điều này là bởi chúng cho rằng đây bằng chứng cho thấy chúng không đủ thông minh, và nếu muốn bảo trì hình tượng thông minh, thì đừng nên mạo hiểm phạm sai lầm nữa.

Kết quả thí nghiệm kinh điển này của bà Dweck là, điểm số của trẻ trong nhóm chăm chỉ đã tăng 30%, trong khi điểm số của trẻ trong nhóm thông minh giảm 20%, 5 lần thí nghiệm liên tục đều cho kết quả tương tự.

Qua thí nghiệm này có thể thấy lời nói có sức mạnh lớn như thế nào, những lời nói vô tình của cha mẹ sẽ có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển sau này của trẻ.

04

Nhà tâm lý học Eriksson có một quan điểm nổi tiếng, ông tin rằng thiên tài vốn không đến từ “bẩm sinh”, mà là từ “sự luyện tập khắc khổ”.

Sau khi nghiên cứu những người kiệt xuất ở mọi lĩnh vực, ông kết luận rằng những người kiệt xuất này sau khi nắm được phương pháp chính xác là “dồn hết tâm trí luyện tập”, thông qua rất nhiều khổ luyện, hình thành “trí nhớ trường kỳ”, mới trở thành thiên tài được.

Hãy để trẻ tập trung làm việc và tập trung vào chính vấn đề cần được giải quyết, chính là gây dựng nền tảng rèn luyện có mục tiêu.

Nếu một đứa trẻ quá chú tâm đến việc người khác đánh giá mình như thế nào, làm việc cứ bó tay bó chân, thì làm sao chúng ta có thể mong đợi nó thành tựu được bản thân thông qua quá trình rèn luyện gian khổ?

Trong bất kỳ lĩnh vực giáo dục nào, đặc biệt là trong quá trình giúp trẻ xây dựng tâm lý hiệu quả, lời nói và việc làm của cha mẹ đều có ảnh hưởng rất lớn. Hãy tạo cho trẻ môi trường thành công liên tục, cho trẻ sự phản hồi chính xác và hiệu quả, việc thiết lập tư duy trưởng thành cho trẻ còn quan trọng hơn cả trăm nghìn lần so với thành tích tạm thời; bởi không phải cha mẹ, mà chính là lối suy nghĩ và hành vi của chính con trẻ sẽ đồng hành cùng chúng trong suốt cuộc đời.

Liệu một người có thể đạt được cái gọi là thành công trong cuộc đời hay không thực ra không quan trọng, điều quan trọng là thông qua nỗ lực không ngừng, người đó có thể đạt được cảm giác hạnh phúc dù phải trải qua nhiều khó khăn và thất bại.

Nếu một người không có năng lực đạt được cảm giác hạnh phúc, ít nhất điều đó chứng tỏ rằng anh ta còn chưa đủ thông minh để đương đầu với thế giới phức tạp này.

Theo Aboluowang
Vũ Dương biên dịch

Từ Khóa: