Khi Mạnh Tử rời khỏi nước Tề, ông cố tình ở lại đình Họa Ấp bên ngoài thành Lâm Tri ba đêm. Có người tò mò hỏi tại sao ông lại đi chậm như vậy, Mạnh Tử nói: “Ta vẫn cảm giác là đi quá nhanh rồi. Lỡ như Tề vương thay đổi chủ ý, bằng lòng thi hành vương đạo thì sao? Vậy thì nhất định sẽ mời ta quay lại”…

Những cuộc tranh luận với các học giả chính là cuộc sống ngày thường của Mạnh Tử ở Tắc Hạ học cung. Tư duy nhanh nhạy, lập luận (logic) cặn kẽ cộng với tài hùng biện xuất khẩu thành văn đã giúp ông giành chiến thắng một cách vẻ vang trong các cuộc tranh luận. Nhưng những điều này không phải là mục tiêu của cuộc đời Mạnh Tử, ông từng nói: “Nếu muốn bình trị thiên hạ, thế gian hiện nay, ngoài ta ra thì còn ai chứ!”. Người mà ông luôn mong đợi được đối thoại nhất chính là Tề Tuyên Vương tuổi trẻ tài cao. Lần này Mạnh Tử đến nước Tề, ông nhận được sự tiếp đãi dành cho Thượng đại phu, có thể thấy được thái độ ngưỡng mộ của Tề Tuyên Vương dành cho Mạnh Tử.

Những mong Thiên tử hành vương đạo – Mấy bận lao tâm, dạ chẳng sờn

Nhưng sau khi Tề vương cho gọi Mạnh Tử vào cung gặp mặt, liền vội vàng đưa ra một câu hỏi có chút khó xử: “Chuyện về Tề Hoàn, Tấn Văn, tiên sinh từng nghe nói chưa?”, Mạnh Tử biết rõ tham vọng bá nghiệp của vị Tề vương này là “muốn mở rộng lãnh thổ, khiến nước Tần, nước Sở đến triều bái, thống trị toàn bộ khu vực Trung Nguyên, ổn định dân tộc thiểu số ở khắp nơi”, nên ông đã dùng phương thức dẫn dắt từng bước một, từ từ khuyên nhủ. Mạnh Tử trả lời một cách khéo léo: “Đệ tử của Khổng Tử không nói chuyện Tề Hoàn, Tấn Văn, hậu thế cũng không lưu truyền. Hay là nói về chuyện thi hành vương đạo đi”.

Tề Tuyên Vương mở đầu cuộc trò chuyện này bằng chủ đề bá đạo, nhưng Mạnh Tử lại khéo léo chuyển đổi đề tài, triển khai tường thuật về thi hành vương đạo. Đầu tiên ông khích lệ Tề vương, nói ông không nhẫn tâm nhìn thấy trâu bò bị giết thịt để cúng tế, điều này xuất phát từ lòng trắc ẩn, đây chính là bản tâm có thể thi hành vương đạo. Tề Tuyên Vương nghe xong vô cùng vui mừng, dần dần mở lòng với Mạnh Tử.

Mạnh Tử lại đề xuất sự khác biệt căn bản giữa không thể thi hành chính sách nhân nghĩa và không muốn thi hành chính sách nhân nghĩa, nếu như Tề vương có thể ban ơn cho động vật, thì tất nhiên cũng có thể ban ơn cho bá tánh. Tiếp theo, ông lại liệt kê những nguy hiểm của việc thi hành bá đạo. Tề vương muốn xưng bá thì sẽ phải đối địch với tất cả chư hầu, cũng giống như nước nhỏ đối đầu với nước lớn vậy.

Nhưng nếu như Tề vương chịu thi hành chính sách nhân nghĩa, vậy thì lòng dân trong thiên hạ đều sẽ hướng về nước Tề, nước Tề không cần chiến đấu và đối địch với bất cứ nước nào, mà cuối cùng lại lấy được thiên hạ. Một bài biện luận, dẫn chứng đầy đủ, khí thế hùng hồn, Tề vương càng nghe càng xúc động: “Hy vọng tiên sinh giúp ta thực hiện nguyện vọng, đem chính sách vương đạo chỉ bày tường tận cho ta”.

Từ bá nghiệp cho đến vương đạo, Mạnh Tử bình thản ung dung mà thao thao bất tuyệt, Tề vương từ lâu đã khao khát bức tranh “thống trị thiên hạ” do ông phác họa rồi. Mạnh Tử biết rõ muốn thi hành vương đạo không phải chuyện một sớm một chiều, quốc vương nhất thời nhiệt huyết dâng trào, không thể quyết định hướng đi của cả một quốc gia. Mạnh Tử còn phải kiên nhẫn khuyên giải nhiều lần hơn nữa, đây cũng chính là trách nhiệm lớn nhất mà ông đi Tắc Hạ học cung.

Mạnh Tử khuyên vua không nghe, cuối đời chuyên tâm viết sách

Vì Tề vương yêu thích các trò tiêu khiển giải trí, cho nên Mạnh Tử đề xuất cùng hưởng lạc với bá tánh mới là thi hành vương đạo. Khi Tề vương nhờ Mạnh Tử tư vấn diện tích vườn hoa, thì ông khuyên Tề vương nên làm bằng diện tích của dân, Tề vương hỏi phương pháp kết giao với nước láng giềng, ông đề xuất “người nhân nghĩa có thể lấy địa vị của nước lớn để tuân theo nước nhỏ, người thông minh có thể lấy địa vị của nước nhỏ để phục tùng nước lớn”. Tề vương tự nói mình là “quả nhân thích dũng mãnh”, Mạnh Tử liền khuyên rằng không nên áp dụng cái dũng của kẻ tầm thường, bậc quân vương nên có sự dũng cảm của Chu Vũ Vương, chỉ một cơn giận có thể bình ổn thiên hạ. Thông qua những câu nói này có thể thấy được Tề vương rất xem trọng Tắc Hạ tiên sinh, mọi chuyện lớn nhỏ đều nghe tư vấn từ Tắc Hạ tiên sinh, đây chính là sách lược dùng người rất đáng quý của Tề Tuyên Vương. Mà học thức, tài biện luận và nỗi khổ tâm tuyên thuyết của Mạnh Tử đều tập trung hết vào những cuộc đối thoại này.

Hình ảnh minh họa: “Tiêu nhàn thanh khóa đồ” do Tôn Khắc Hoàng thời nhà Minh vẽ (ảnh: Phạm vi công cộng).

Sự đối lập căn bản giữa bá đạo và vương đạo cũng khiến cuộc đối thoại giữa Mạnh Tử và Tề vương trở nên vô cùng căng thẳng. Mạnh Tử hỏi Tề vương, nếu như một người phải đi làm nhiệm vụ, giao phó vợ con cho người bạn của mình chăm sóc, nhưng khi quay về thì phát hiện vợ con chịu đói chịu rét, phải xử trí thế nào? Nếu như một trưởng quan không thể quản lý nổi thuộc hạ của mình, phải xử trí như thế nào? Nếu như một quốc vương không thể cai trị tốt đất nước của mình, phải xử trí thế nào? Hai câu đầu thì Tề Tuyên Vương trả lời rằng sẽ tuyệt giao với người bạn đó, đổi một quan viên khác, nhưng đến câu hỏi cuối cùng thì mới phát hiện là mình đã  “trúng kế”, đành phải “nhìn trước ngó sau rồi nói sang chuyện khác”.

Mạnh Tử quan tâm dân sinh, chủ trương người dân là quan trọng nhất, rồi mới đến đất nước, quốc vương là sau cùng. Khi Mạnh Tử thấy Tề vương không chịu thi hành vương đạo, ông liền thẳng thắn đưa ra lời khuyên mà không chút khiếp sợ uy nghiêm của quân vương. Ở đây lại có thể nhìn ra được sự bao dung của Tề Tuyên Vương đối với Tắc Hạ tiên sinh, cho dù là chủ đề nói chuyện động chạm đến uy nghiêm của quân vương, Tề vương bị hỏi đến không thể đối đáp, cũng chỉ là chuyển chủ đề khác chứ không trách tội Mạnh Tử. Chỉ có ở trong môi trường chính trị văn minh như vậy, các vị tiên sinh của Tắc Hạ mới có thể thoải mái bàn luận chính sự mà không chút kiêng dè, đem hết toàn bộ tâm ý của mình truyền đạt với quốc vương.

Năm Tề Tuyên Vương thứ 6 (năm 314), nước Yên ở phương Bắc xảy ra bạo loạn trong nước. Nguyên nhân là vì hôn quân Yên Vương Khoái thiện nhượng vương vị cho tể tướng Tử Chi, mà Tử Chi thì chuyên quyền vô đạo, thái tử nước Yên khởi binh phản kháng nhưng bị thất bại, khiến cho nước Yên rơi vào cảnh hỗn loạn, mấy vạn bá tánh trong kinh thành cũng vì vậy mà mất mạng. Tề Tuyên Vương nhân cơ hội này mang quân đi tấn công nước Yên, bởi vì bá tánh nước Yên vô cùng căm ghét Tử Chi, không ai chịu bán mạng cho chính quyền mới, vì vậy mà quân Tề thuận lợi tấn công, chỉ mất 50 ngày đã chiếm được kinh đô nước Yên. Tề Tuyên Vương chuẩn bị thôn tính nước Yên, nhưng trước khi hành động đã đặc biệt tư vấn Mạnh Tử.

Tề vương nói: “Dùng một nước lớn để đánh một nước lớn, chỉ mất năm mươi ngày đã chiếm được, đây là ý Trời. Nếu như không thôn tính, nhất định sẽ bị ông Trời khiển trách. Tiên sinh cảm thấy thế nào?” Mạnh Tử lại phát huy tinh thần ứng biến của mình một lần nữa, đứng ở góc độ của người dân để hỏi Tề vương: “Nếu như bá tánh nước Yên vui mừng, vậy thì thôn tính đi; nếu như bá tánh nước Yên không vui mừng, vậy thì không nên thôn tính”. Ông lại chỉ ra nguyên nhân mà bá tánh nước Yên hoan nghênh quân Tề vào xâm chiếm, đó là hy vọng thoát khỏi cuộc sống dầu sôi lửa bỏng, nhưng nếu như cuộc sống của bá tánh nước Yên lại càng khổ cực hơn, thì liệu họ còn ủng hộ quân Tề nữa không?

Tuy nhiên, Tề Tuyên Vương không lọt tai những lời này của Mạnh Tử, tham vọng xưng bá khiến ông quyết định tiếp tục chiếm cứ nước Yên. Nếu nước Tề chiếm được nước Yên thì thực sự sẽ càng lớn mạnh, điều này sẽ làm phá vỡ sự cân bằng thế lực giữa các nước thời Chiến Quốc, vì vậy mà các nước chư hầu có chút bất mãn đối với nước Tề. Cuối cùng, các nước như Triệu, Ngụy, Hàn, Sở, Tần đã liên minh quân sự với nhau để đánh Tề, nước Tề bỗng chốc rơi vào tình cảnh khốn khó. Tề Tuyên Vương vội vàng tìm kiếm sự giúp đỡ từ chỗ Mạnh Tử. Mạnh Tử lấy ví dụ Thương Thang (Thành Thang) thống trị thiên hạ để khuyên Tề vương, nói rằng mỗi lần Thương Thang chinh phạt một nước, đều tiêu diệt bạo quân, hỏi thăm an ủi bá tánh, vì vậy bá tánh của các nước đều trung thành và quy thuận Thương Thang.

“Nhưng mà đại vương đi đến nước Yên, chém giết, bắt giữ bá tánh, phá hủy miếu thờ của nước Yên, cướp đi những thứ quý giá của nước Yên, vậy làm sao được chứ? Chư hầu trong thiên hạ vốn dĩ luôn kiêng dè nước Tề, bây giờ lãnh thổ nước Tề lại tăng gấp bội, mà lại không thi hành chính sách nhân nghĩa, đây chính là đang khiêu khích các nước gây chiến”. Mạnh Tử thúc giục Tề vương lập tức ra lệnh đình chỉ tất cả những việc làm gây tổn hại bá tánh, làm mất lòng dân, đồng thời chọn ra một người trong nước Yên làm quốc vương, sau đó nhanh chóng rút quân, như vậy mới có thể ngăn chặn được chư hầu hợp sức tấn công, bảo toàn được nước Tề.

Nhưng cuối cùng Tề Tuyên Vương vẫn không nghe theo lời khuyên của Mạnh Tử, quân Tề buộc phải rút lui dưới sức ép của quân liên minh các nước, công tử Chức đang làm con tin ở nước Hàn quay trở về nước Yên lên ngôi, tức Yên Chiêu Vương. Yên vương vừa mới lên ngôi mang chí lớn chấn hưng đất nước và báo thù, tập trung vào cai trị đất nước, chiêu nạp nhân tài, nước Yên nhanh chóng đi vào thời kỳ hưng thịnh. Tề Tuyên Vương cũng chỉ có thể âm thầm cảm thán: “Ta rất có lỗi với Mạnh Tử”. Lần thất bại này đã gieo mầm suy tàn cho nước Tề, cũng khiến Mạnh Tử bước vào tuổi già ý thức được rằng nước Tề không phải là đất nước lý tưởng để thống trị thiên hạ.

Tắc Hạ học cung lúc này vẫn đang tiến hành những hoạt động thuyết giảng, biện luận của ngày thường, tuy rằng Mạnh Tử được hưởng bổng lộc của Thượng đại phu, có được sự kính trọng của quốc vương và bá tánh nước Tề, nhưng trong lòng ông đã nảy sinh ý định quy ẩn. Tề Tuyên Vương vì chuyện này mà đích thân đi đến nhà của Mạnh Tử để níu giữ, và hứa rằng: “Ta bằng lòng xây một phủ đệ riêng biệt ở kinh đô cho Mạnh Tử, dùng vô số gạo ngon để nuôi các học trò của ông ấy, cho quan viên và bá tánh của nước Tề học tập từ ông ấy”. Nhưng Mạnh Tử vẫn từ chối ý tốt của Tề Tuyên Vương, ông vì muốn thực thi chính sách nhân nghĩa mà làm khách ở nước Tề, nhưng Tề Tuyên Vương trước sau vẫn không bằng lòng tiếp nhận tư tưởng vương đạo, chính sách nhân nghĩa, Mạnh Tử ở lại nước Tề còn có ý nghĩa gì chứ?

Khi Mạnh Tử rời khỏi nước Tề, ông cố tình ở lại đình Họa Ấp bên ngoài thành Lâm Tri ba đêm. Có người tò mò hỏi tại sao ông lại đi chậm như vậy, Mạnh Tử nói: “Ta vẫn cảm giác là đi quá nhanh rồi. Lỡ như Tề vương thay đổi chủ ý, bằng lòng thi hành vương đạo thì sao? Vậy thì nhất định sẽ mời ta quay lại. Nếu Tề vương có thể dùng ta, đâu phải chỉ có bá tánh nước Tề được an cư lạc nghiệp, mà bá tánh trong thiên hạ đều sẽ an cư lạc nghiệp”. Thậm chí Mạnh Tử còn nói rất xúc động mà rằng: “Mỗi ngày ta đều mong đợi Tề vương có thể hồi tâm chuyển ý”.

Vị đại học giả đức cao vọng trọng này của Tắc Hạ học cung cuối cùng cũng ôm hối tiếc mà rời khỏi ngôi cung điện học thuật này. Sau đó, Mạnh Tử đi đến nước Tống, nước Lỗ, cuối cùng quay trở về quê hương ở nước Chu (nước Trâu). Mạnh Tử lúc về già một lòng chuyên tâm viết sách, truyền đạo thụ nghiệp, dùng hình thức chữ viết và giáo dục để tiếp tục lưu truyền toàn bộ học vấn trong đời và lý tưởng chưa thể hoàn thành của mình. Mạnh Tử vì muốn thực hiện vương đạo đã bôn ba khắp thiên hạ hơn nửa đời người, và đem phần lớn thời gian trong cuộc đời mình cống hiến cho nước Tề. Sự xuất hiện của ông càng làm rạng rỡ Tắc Hạ học cung vốn đã hưng thịnh.

Với tư cách là một đời tiên sinh của Tắc Hạ, phong thái biện luận hùng hồn của Nho giáo cộng với khí khái trượng phu vô cùng chính nghĩa của Mạnh Tử, cùng với niềm tin kiên định của ông, sẵn sàng vì lý tưởng mà vất vả cả đời đã thành tựu được tinh thần văn nhân Trung Hoa rực rỡ cho đến tận ngày nay và được lưu danh thanh sử.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch