Dưới sự ảnh hưởng của Thuần Vu Khôn, Tề Uy Vương rất biết lắng nghe ý kiến của thần tử, trọng dụng vô số các nhà chính trị và quân sự như Trâu Kỵ, Tôn Tẫn, Điền Kỵ, v.v., thực hiện hàng loạt những cải cách tiến bộ. Tề quốc ngày càng lớn mạnh như vũ bão…

Tuyên Uy chi trị, Tắc Hạ cường thịnh

Vào thời kỳ của Điền Tề Hoàn Công, chính trị triều đình suy yếu không ổn định, kẻ địch rình rập, Tắc Hạ học cung thiếu nguồn kinh tế và môi trường chính trị tốt, quy mô và sức ảnh hưởng của Tắc Hạ có hạn, vẫn ở trong giai đoạn phát triển ban đầu. Bước sang thời của Tề Uy Vương, Tắc Hạ tiên sinh được quốc vương giao phó trọng trách, trợ giúp nước Tề trỗi dậy lần nữa, mà sự lớn mạnh của nước Tề cũng giúp Tắc Hạ học cung tạo dựng được thời kỳ phát triển hoàng kim.

Dưới sự trợ giúp của các đời Tề Vương, các vị tiên sinh trong Tắc Hạ ngập tràn tinh thần chính nghĩa, những học thuyết của Tắc Hạ đạt được nhiều thành tựu mới. Bố cục tranh “Đông Lâm Đồ” của Cừu Anh thời nhà Minh (Phạm vi công cộng)

Dưới sự ảnh hưởng của Thuần Vu Khôn, Tề Uy Vương rất biết lắng nghe ý kiến của thần tử, trọng dụng vô số nhà chính trị và nhà quân sự như Trâu Kỵ, Tôn Tẫn, Điền Kỵ… thực hiện hàng loạt những cải cách. Về mặt chính trị thì chỉnh đốn chính sách đối với quan viên, tuyên bố rõ ràng các luật lệ và quy định; về mặt quân sự thì nuôi ngựa và chế tạo binh khí tốt, đánh bại được đội quân của nước Ngụy trong trận chiến ở Quế Lăng và Mã Lăng. Từ đó, uy danh của nước Tề làm chấn động các chư hầu, xưng bá tại phía Đông Hoa Hạ, các nước lần lượt hoàn trả lãnh thổ đã xâm chiếm trước đó, không còn dám đưa quân đến đánh Tề quốc.

Trọng dụng hiền tài, Tề quốc phồn vinh

Năm Tề Uy Vương thứ 23 (năm 334 TCN), Ngụy Huệ Vương thống lĩnh vài nước nhỏ đến Từ Châu để gặp Tề Uy Vương, gọi Tề Uy Vương là “vương”, Tề Uy Vương không dám tự mình xưng vương, ông cũng thừa nhận vương hiệu của Ngụy Huệ Vương, lịch sử gọi là “Từ Châu tương vương”. Sau đó, các nước chư hầu lần lượt xưng vương, Chu thiên tử mất đi vị trí bá chủ của thiên hạ, nước Tề là một trong Chiến Quốc thất hùng (7 nước lớn chủ đạo trong thời Chiến Quốc), địa vị cũng dần dần được xác lập.

Năm 319 TCN, con trai của Tề Uy Vương là Tề Tuyên Vương lên ngôi. Tề Tuyên Vương cũng giống cha mình, cũng từng có một giai đoạn hoang dâm vô đạo trong thời kỳ đầu chấp chính. Một hôm, Tề Tuyên Vương gọi Thuần Vu Khôn đến gặp, và hỏi rằng: “Tiên sinh cho rằng sở thích của quả nhân là gì?”, Thuần Vu Khôn lại một lần nữa khổ tâm khuyên giải, nói rằng người xưa thích bốn món đồ, đại vương chỉ thích ba món, bởi vì đại vương thích sắc đẹp, thích ngựa, thích món ngon, chỉ duy nhất không thích nhân tài. Tề Tuyên Vương nói một cách đối phó rằng: “Trong nước không có hiền tài, nếu như có thì quả nhân sẽ thích”.

Thuần Vu Khôn nói, hôm nay không có thiên lý bảo mã, mỹ vị nhân gian và tuyệt sắc giai nhân của thời xưa, nhưng đại vương vương tìm kiếm một trong một trăm, có thể thấy được là thật lòng yêu thích, nhưng đối với nhân sĩ thánh hiền, đại vương phải chờ đến khi họ xuất hiện rồi mới chịu yêu thích (có thể thấy không phải là thật lòng yêu thích), vậy thì hiền tài cũng sẽ không đến quy thuận đại vương đâu! Những lời này của Thuần Vu Khôn khiến cho Tề Tuyên Vương cứng họng không đối đáp lại được.

Để phản bác lại cách nói “trong nước không có hiền tài” của Tề Tuyên Vương, Thuần Vu Khôn tiến cử một lúc 7 người hiền tài chỉ trong một buổi sáng. Tề Tuyên Vương cảm thấy rất kỳ lạ: “Người ta nói rằng ngàn dặm mới xuất hiện một nhân tài, gọi là ‘các hiền tài đứng kề sát nhau’, trăm năm mới xuất hiện một Thánh nhân, gọi là ‘các Thánh nhân nối gót mà đến’. Tiên sinh làm sao có thể một ngày tiến cử bảy người hiền tài chứ? Lẽ nào không phải quá nhiều rồi sao?” Thuần Vu Khôn trả lời: “Vật cùng chủng loại mà tập hợp, người cùng chung chí hướng mà hội tụ thành nhóm, Thuần Vu Khôn thần đây là một hiền tài, nay đại vương tìm kiếm hiền tài ở chỗ thần cũng giống như lấy nước ở sông, lấy lửa ở trong đá lửa vậy, những người mà thần muốn tiến cử đâu chỉ có bảy người này thôi!”.

Cuối cùng Tề Tuyên Vương cũng hiểu được dụng ý của Thuần Vu Khôn, bắt đầu đối đãi tốt với các nhân sĩ có tài hoa. Theo như “Sử Ký” ghi chép, Tề Tuyên Vương thích những nhân sĩ thuyết giảng văn học, phong cho 76 người dưới quyền của Thuần Vu Khôn làm Thượng đại phu, ban cho họ đặc quyền không trị mà nghị luận (nghĩa là mặc dù không đảm nhận chức vụ thực tế nhưng được phép bàn luận về chính trị). Đồng thời, Tề Tuyên Vương còn “mở con đường lớn khang trang, xây phòng rộng cổng cao, tôn trọng và sủng ái” để thể hiện thành ý lớn nhất của mình đối với các nhân sĩ hiền tài. Ông duy trì chính sách trị quốc của Tề Uy Vương, hai cha con nối tiếp nhau xây dựng thời kỳ cường thịnh của “Tuyên Uy chi trị”.

Cùng với sự ổn định của chính trị và sự lớn mạnh của đất nước, Tề Tuyên Vương lại càng nhận thức sâu sắc ý nghĩa của nhân tài đối với đất nước, càng xem trọng việc xây dựng Tắc Hạ học cung. Có thể tìm thấy rất nhiều ghi chép về tình trạng hưng thịnh của Tắc Hạ học cung trong tài liệu lịch. Lưu Hướng nói trong “Tôn Khanh Thư Tự Lục” rằng: “Vào thời Tề Uy Vương, Tề Tuyên Vương, hội tụ nhân sĩ hiền tài tại Tắc Hạ, gọi là Liệt đại phu”. Chương “Cùng thông” trong “Phong tục thông nghĩa” của Ưng Thiệu có nói: “Thời kỳ Tề Uy Vương và Tề Tuyên Vương, tập hợp hiền tài trong thiên hạ tại Tắc Hạ để tôn sùng, những nhân tài như Trâu Diễn, Điền Biền, Thuần Vu Khôn rất nhiều, gọi là Liệt đại phu, tất cả các đời đều gọi như vậy, đều sáng tác sách nêu ra thiếu sót của thời đại”.

Thuần Vu Khôn với tư cách là người đứng đầu Tắc Hạ học cung, nên được nhận danh hiệu Tiến sĩ, hưởng bổng lộc của chức quan Thượng khanh, ông vừa là mưu sĩ của Tề Vương, đồng thời cũng đảm nhận chức vụ cụ thể để góp sức cho đất nước. Thuần Vu Khôn từng nhiều lần đi sứ nước khác với thân phận là sứ thần để hòa hoãn giữa các chư hầu; ông cũng từng tham gia các bữa tiệc của vương công quý tộc. Thuần Vu Khôn dựa vào tài trí nhạy bén và khả năng biện bác của mình để hoàn thành sứ mệnh được giao, thậm chí ông còn được gọi là “loạn thế năng thần”, nghĩa là một thần tử tài giỏi trong thời loạn thế.

Tắc Hạ học cung lúc này đã hội tụ được hàng trăm hàng ngàn năng nhân dị sĩ, biểu hiện ra thời kỳ cường thịnh, cụ thể là văn hóa phồn vinh và đông đảo nhân tài. Bên trong Tắc Hạ, có vô số các bậc thầy trí huệ tề tựu về đây, xuất hiện rất nhiều trường phái tư tưởng, bao gồm Thuần Vu Khôn, Vương Đẩu thuộc trường phái hỗn tạp; Mạnh Tử, Tuân Tử của Nho giáo; Tiếp Tử, Hoàn Uyên của Đạo giáo; Thận Đáo, Điền Biền của Pháp gia; Trâu Diễn, Trâu Thích của Âm Dương gia… phần lớn những học thuật trong thời Chiến Quốc đều được bắt nguồn từ Tắc Hạ học cung. Dưới sự trợ giúp của các đời Tề Vương, các vị tiên sinh của Tắc Hạ tràn đầy tinh thần hưng phấn, những học thuyết của Tắc Hạ đạt được nhiều thành tựu mới, trong quá trình phát triển, Tắc Hạ học cung đã đạt đến một thời kỳ huy hoàng đỉnh cao.

[Còn tiếp…]

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

videoinfo__video3.dkn.tv||7d0c9ed3c__

Ad will display in 09 seconds

Có thể bạn quan tâm: