Năm Tề Uy Vương thứ 8 (năm 349 TCN), nước Sở phạt Tề, Tề Uy Vương ra lệnh cho Thuần Vu Khôn mang theo một trăm cân vàng và 10 cỗ xe ngựa đi tặng cho nước Triệu, để xin nước Triệu viện trợ. Thuần Vu Khôn không nói gì, chỉ ngước mặt lên trời và cười lớn tiếng, sau đó ông tự kéo đứt luôn sợi dây buộc mũ…

Sau Điền Tề Hoàn Công, Tề Uy Vương lên kế vị. Nước Tề ở phương Đông chưa thể thay đổi diện mạo mới dưới sự chấp chính của vị vua mới, học viên của Tắc Hạ cũng chưa thể thực hiện được giá trị thực sự của nó. Giống như màn đêm trước bình minh ló dạng, đã vậy, vị quân vương đời thứ tư của Điền Tề tức Tề Uy Vương lại bước lên sân khấu lịch sử với hình tượng của một vị quân vương suốt ngày chìm đắm trong tửu sắc, không lo việc triều chính.

Tề Vương cung khi đó múa hát thâu đêm, ánh đèn sáng rực từ đêm đến sáng. Vị Tề Uy Vương trẻ tuổi này suốt ngày chìm đắm trong tửu sắc, quốc gia trong ngoài rối ren, mà quần thần không dám khuyên can. Trong một bữa tiệc nọ, một người đàn ông với diện mạo không mấy sáng sủa, đột nhiên cắt ngang bữa tiệc, bước ra khuyên Tề Uy Vương. Ông đưa ra một câu đố với Tề Uy Vương: “Trong nước ta có một con chim lớn, đậu ở trong vương đình. Trong ba năm nó không bay cũng không hót, đại vương có biết tại sao con chim này lại như vậy không?”

Người đàn ông này tên là Thuần Vu Khôn, chữ “khôn” này có nghĩa là một loại hình phạt, ám chỉ cạo trọc đầu của người khác để làm hình phạt. Trong “Sử Ký” giới thiệu: “Thuần Vu Khôn, là người chuế tế của Tề quốc. Cao chưa đầy bảy thước” (chuế tế nghĩa là ở rể). Người này có vóc hình nhỏ thó, thân phận thấp kém, lại từng chịu hình phạt mang tính sỉ nhục, nhưng có thể ra vào vương cung, trực tiếp nói chuyện với Tề vương, mà nội dung nói chuyện lại là chủ đề mà các đại thần trong triều không dám nhắc đến. Chỉ bởi vì, ông còn có một thân phận khác khá tôn quý, chính là Tắc Hạ tiên sinh. Ông học rộng biết nhiều, có trí nhớ tốt, có tài biện bác, vì vậy mà đứng đầu Tắc Hạ (Tắc Hạ tiên sinh là những người trí tuệ cao siêu, có thân phận cao quý trong Tắc Hạ học cung).

Thuần Vu Khôn có tài biện luận, dùng ẩn dụ can gián quốc vương

Thuần Vu Khôn là vị Tắc Hạ tiên sinh đầu tiên có ghi chép rõ ràng trong lịch sử. Ông giống như một tấm gương sáng phản chiếu ra phong thái của học viện Tắc Hạ. Không chỉ vậy, ông lại càng giống một khuôn mẫu chuẩn mực, đại diện cho tiêu chuẩn tuyển chọn nhân tài của nước Tề, đồng thời cũng là tấm gương mẫu mực của những vị tiên sinh trong Tắc Hạ học cung. Tề vương chiêu nạp hiền tài, xem trọng nhất là tài hoa đích thực chứ không phải gia thế và diện mạo, vì vậy mới không câu nệ khuôn phép mà cho Thuần Vu Khôn làm tiên sinh đứng đầu Tắc Hạ, thể hiện được mục đích xây dựng học cung là để “chiêu nạp nhân tài và tôn kính, sủng ái nhân tài”. Không phụ lòng khao khát tìm cầu nhân tài của Tề Vương, Tắc Hạ tiên sinh cũng là thông qua tài hoa và học vấn của bản thân để phò tá cho quốc vương, triển khai quan niệm chính trị mạch lạc, thực hiện lý tưởng to lớn khiến cho quốc gia giàu có và người dân có cuộc sống yên ổn.

Thuần Vu Khôn vô cùng ngưỡng mộ tể tướng Yến Anh của nước Tề, ông cũng nổi tiếng là người khéo quan sát lời nói và sắc mặt của người khác, giỏi suy đoán tâm ý của đối phương; dũng khí và trí tuệ của Thuần Vu Khôn quả thực nổi bật hơn người. Có một lần, Thuần Vu Khôn được tiến cử cho Lương Huệ Vương của nước Ngụy, hai lần gặp mặt Huệ Vương, Thuần Vu Khôn không nói lời nào. Sau này Thuần Vu Khôn giải thích rằng: tâm tư của Lương Huệ Vương đều nằm ở những con ngựa và âm nhạc, nên ông mới im lặng không lên tiếng. Sau khi Lương Huệ Vương nghe được chuyện này, vô cùng kinh ngạc mà thốt lên rằng: “Thuần Vu tiên sinh quả thật là Thánh nhân!”

Thì ra trong hai lần Lương Huệ Vương gặp mặt Thuần Vu Khôn, đều có người hiến tặng tuấn mã và ca kỹ từ trước, vì vậy trong hai lần gặp mặt đó, tâm trí của Lương Huệ Vương đều không ở trong cuộc nói chuyện, mà chỉ tập trung nghĩ về những thú vui cưỡi ngựa và nghe ca hát.

Lần thứ ba cho gọi Thuần Vu Khôn đến gặp mặt, Lương Huệ Vương thành tâm thành ý nói chuyện với Thuần Vu Khôn, hai người đàm đạo suốt ba ngày ba đêm mà không biết mệt, Lương Huệ Vương còn muốn phong cho Thuần Vu Khôn làm Khanh tướng. Nhưng Thuần Vu Khôn biết rằng Lương Huệ Vương vốn dĩ không phải là vị minh quân mà ông luôn muốn hướng đến, không thể nào thực hiện được quan niệm chính trị của ông, vì vậy ông xem nhẹ quan cao bổng lộc, cả đời không chịu ra làm quan. Quê hương nước Tề và Tắc Hạ học cung mới là nơi chốn lý tưởng mà Thuần Vu Khôn lưu luyến không quên.

Khi nước Tề xuất hiện tình trạng đáng lo ngại, với tư cách là một tiên sinh tôn quý và được xem trọng, Thuần Vu Khôn đã dũng cảm đứng ra khuyên quốc vương. Ông dựa vào đặc điểm Tề Vương thích đối đáp bằng phương pháp ẩn dụ, sử dụng một câu ẩn dụ tinh tế để đưa ra ví dụ mang tính châm biếm, ví Tề Uy Vương không lo chính sự cũng như một con chim không bay cũng không hót, vừa thu hút được sự chú ý của Tề Uy Vương vừa bảo vệ được thể diện của quốc vương.

Sau khi Tề Uy Vương nghe xong, cũng dùng một câu ẩn dụ tinh tế không kém để đáp lại ông: “Thử điệu bất phi tắc dĩ, nhất phi xung thiên; bất minh tắc dĩ, nhất minh kinh nhân”. Câu này nghĩa là: Con chim này không bay thì thôi, đã bay là bay cao vút trời, không hót thì thôi, một khi đã hót là sẽ khiến người ta phải kinh ngạc.

Thuần Vu Khôn dùng hình tượng “con chim” làm ẩn dụ khuyên giải Tề Uy Vương, Tề Uy Vương lập tức tỉnh ngộ, để lại điển tích “nhất minh kinh nhân”. Bố cục bức tranh “Tùng mai song hạc đồ” của Thẩm Thuyên thời nhà Thanh (Phạm vi công cộng)

Đây chính là nguồn gốc của câu thành ngữ “nhất minh kinh nhân”. Dưới lời khuyên chân thành của Thuần Vu Khôn, Tề Uy Vương lập tức tỉnh ngộ, từ đó về sau siêng năng việc triều chính, dốc lòng vào việc trị nước.

Năm Tề Uy Vương thứ 8 (năm 349 TCN), nước Sở phạt Tề, Tề Uy Vương ra lệnh cho Thuần Vu Khôn mang theo một trăm cân vàng và 10 cỗ xe ngựa đi tặng cho nước Triệu, để xin nước Triệu viện trợ. Thuần Vu Khôn không nói gì, chỉ ngước mặt lên trời và cười lớn tiếng, sau đó ông tự kéo đứt luôn sợi dây buộc mũ.

Tề Uy Vương hỏi: “Có phải chê ít không?”, Thuần Vu Khôn kể một câu chuyện thay cho câu trả lời của mình. Ông kể rằng hôm nay ông nhìn thấy bên đường có một người cầm một cái chân giò và một ly rượu, cầu xin Thần linh ban cho anh ta ngũ cốc dồi dào, lương thực đầy kho. Thuần Vu Khôn cho rằng phẩm vật cúng tế của anh ta quá ít mà thứ muốn có được lại quá nhiều, nhịn không được nên cười nhạo anh ta. Tề Uy Vương nghe xong liền hiểu ngay, sau đó gia tăng thêm lễ vật tặng cho nước Sở, tổng cộng thành một ngàn dật vàng (1 dật = 20 lạng, tức 2kg; 1 ngàn dật = 2000 kg), 10 đôi vòng bạch ngọc, 100 cỗ xe ngựa. Thuần Vu Khôn lập tức nhận lệnh đi đến nước Triệu, vụ thương thuyết thành công, nước Tề được nước Triệu viện trợ cho 10 vạn tinh binh và 1000 chiếc chiến xa cao cấp. Đối phương là nước Sở nghe được tin này, lập tức rút binh ngay trong đêm.

Nước Tề xoay chuyển được nguy cơ, Tề Uy Vương lại mở tiệc để chúc mừng, và cho mời Thuần Vu Khôn đến dự tiệc. Trong bữa tiệc, Tề Uy Vương hỏi Thuần Vu Khôn rằng: “Tiên sinh uống bao nhiêu mới say?” Câu trả lời của Thuần Vu Khôn đáng để cho người ta phải suy ngẫm, ông nói rằng: “Thần uống một đẩu cũng say, một thạch cũng say” (1 đẩu = 10 lít, 1 thạch = 10 đẩu = 100 lít).

Sau đó, ông giải thích rằng con người ở trong những trường hợp khác nhau thì tâm trạng cũng không giống nhau, tửu lượng cũng theo đó mà thay đổi. Khi lời nói và hành vi không bị giới hạn, tâm trạng càng sảng khoái, uống rượu càng thấy vui, tửu lượng cũng càng lúc càng mạnh hơn, nhưng nếu như vậy, hành vi cũng sẽ càng lúc càng phóng túng, uống càng lúc càng nhiều, cuối cùng không biết tiết chế, vì vậy mà gây ra nguy cơ.

Cuối cùng, Thuần Vu Khôn đưa ra kết luận là “lạc cực sinh bi, thịnh cực tất suy” (niềm vui đạt đến mức tột cùng sẽ xảy ra chuyện bi thương; hưng thịnh đến cực điểm chắc chắn sẽ suy tàn).

Tề Uy Vương cũng nghe ra được ý nghĩa sâu xa trong câu nói của ông, liền khen một tiếng: “Hay!”,  từ đó Tề Uy Vương hủy bỏ thú vui tiệc tùng thâu đêm. Tắc Hạ tiên sinh Thuần Vu Khôn khổ tâm khuyên giải Tề Vương, dùng ngôn từ ẩn dụ và cách ứng đối khéo léo để phò tá Tề Vương, mang lại một diện mạo hoàn toàn mới cho đất nước.

Thuần Vu Khôn hỏi khó tướng quốc, đem lễ nghi thử tài Á Thánh

Những học sĩ nổi tiếng trong Tắc Hạ học cung vừa thông minh lại giỏi hùng biện, tự tin mà thẳng thắn, họ có thể đưa ra lời thách thức đối với bất cứ một nhân vật quyền quý hoặc một bậc thầy nào đó, để tiến hành giao lưu học thuyết và tư duy. Mà ở đây khi các cao thủ giao đấu với nhau, không có những lời hay ý đẹp như hoa trời tung bay, cũng không có sự chém giết của gươm đao, mà chỉ cần vài ngôn từ ngắn gọn là có thể lĩnh hội được ý nghĩa và tư tưởng bên trong, chỉ trong thoáng chốc như một tia lửa lóe lên là có thể phân định được thắng thua. Còn những người ngoài cuộc luôn phải suy ngẫm rất lâu mới có thể lĩnh ngộ được vài phần ý nghĩa thực sự bên trong. Với nguyên lão Thuần Vu Khôn của Tắc Hạ học cung, trong cuộc đời của ông cũng từng có hai lần giao lưu đọ sức vô cùng thú vị với các bậc trí tuệ.

Cuộc đọ sức lần thứ nhất của Thuần Vu Khôn là với danh tướng Trâu Kỵ. Trâu Kỵ nhờ có biệt tài đánh trống và gảy đàn nên được gặp Tề Uy Vương, ông dùng âm luật để ẩn dụ với quốc vương về đạo trị quốc, tài hùng biện và học thức của ông vô cùng thâm sâu, được Tề Uy Vương đánh giá rất cao, chỉ trong ba tháng đã được phong lên làm Tướng quốc. Chuyện này đã thu hút sự chú ý của Thuần Vu Khôn, ông không chút kiêng dè đối phương là đại thần mới của triều đình, bèn dẫn theo hơn 70 vị tiên sinh của Tắc hạ đi gặp Trâu Kỵ. Thuần Vu Khôn chuẩn bị đưa ra vài câu hỏi khó mà lại rất thực tế, muốn thử xem Trâu Kỵ có thực sự xứng danh là trụ cột của đất nước hay không, hay chỉ là một kẻ giỏi khua môi múa mép thôi.

Khác với Thuần Vu Khôn, Trâu Kỵ là một mỹ nam tử (một người đàn ông có tướng mạo khôi ngô), trong “Chiến Quốc Sách” miêu tả Trâu Kỵ “cao hơn tám thước, tướng mạo khôi ngô uy vũ”, tuy nhiên diện mạo bề ngoài không phải là tiêu chuẩn để đánh giá nhân tài của nước Tề. Hai nhân tài đứng đối diện nhau, Trâu Kỵ dùng một câu “cẩn thụ giáo” (câu này nghĩa là cung kính nhận sự chỉ giáo của đối phương), thể hiện được thành ý và sự kính lễ lớn nhất của mình. Đầu tiên Thuần Vu Khôn đưa ra câu hỏi: “Lễ tiết phụng sự quân vương đã hoàn tất và đầy đủ, vậy thì thân thể và danh vọng đều có được, nếu như mất đi lễ tiết, thì sẽ thân bại danh liệt”. Trâu Kỵ lập tức trả lời: “Xin tuân theo căn dặn của ngài, tôi sẽ không rời xa Tề Vương”.

Tiếp theo, một người hỏi bốn câu, một người trả lời bốn câu, mỗi lần Thuần Vu Khôn vừa đưa ra câu hỏi mang tính châm biếm, Trâu Kỵ ngay lập tức đưa ra câu trả lời chính xác, Trâu Kỵ trả lời nhanh đến nỗi giống như là âm thanh vọng lại từ câu hỏi của Thuần Vu Khôn vậy. 5 câu hỏi mà Thuần Vu Khôn đưa ra đều được phát triển xoay quanh phương pháp trị quốc, từ hiển ngôn đến hàm ẩn, từ dễ đến khó, thể hiện hết toàn bộ nghệ thuật ngôn ngữ của Thuần Vu Khôn. Câu trả lời của Trâu Kỵ luôn mở đầu bằng “cẩn thụ lệnh” (nghĩa là cung kính nhận lệnh), từ 5 phương diện: phụng sự quốc vương, gần gũi và xa lánh các đại thần, yêu dân, trọng dụng hiền tài, sửa đổi luật lệ để phát triển thành quan niệm chính trị. Thuần Vu Khôn cảm thấy rất khâm phục Trâu Kỵ, và dự đoán rằng Trâu Kỵ không lâu sẽ được phong Hầu.

Lần đọ sức thứ hai của Thuần Vu Khôn chính là với Mạnh Tử, một trong những bậc hiền Nho có danh tiếng cao nhất trong Tắc Hạ. Mạnh Tử là nhân vật đại diện quan trọng cho Nho giáo sau Khổng Tử, người đời gọi ông là “Á Thánh”. Trong thời cuộc hỗn loạn và phức tạp của thời kỳ Chiến Quốc, Mạnh Tử đã thiết lập được quan niệm chính trị nhân nghĩa “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (người dân là quan trọng nhất, xã tắc là thứ yếu, quốc vương ở vị trí sau cùng), và học thuyết tính thiện “nhân chi sơ, tính bản thiện” (con người khi mới sinh ra, bản tính vốn dĩ là lương thiện). Mạnh Tử cũng đi chu du các nước giống như Khổng Tử, dốc sức đưa chủ trương chính trị của mình đến với thế gian. Mỗi lần ông đi đến một nước, đều được quốc vương nước đó đối đãi rất tốt. Dựa vào tài năng biện bác và tinh thần quang minh chính trực của mình, ông nhanh chóng trở thành học giả vang danh thiên hạ.

Tranh vẽ Mạnh Tử (Phạm vi công cộng).

Cả đời ông từng đi Tề hai lần, đều được các Thượng khanh tiếp đãi đúng lễ nghi. Trong Tắc Hạ học cung, các học giả được tự do giao lưu, biện luận, với Mạnh Tử, Thuần Vu Khôn cũng xem như gặp được đối thủ mạnh nhất của đời mình. Có một hôm, Thuần Vu Khôn đến “thỉnh giáo” Mạnh Tử, ông hỏi: “Nam nữ thụ thụ bất thân, có phải lễ nghi phép tắc không?” (nam nữ thụ thân bất thân nghĩa là giữa nam và nữ không được trực tiếp tiếp xúc, nói chuyện hoặc nhận đồ vật từ nhau), Mạnh Tử trả lời: “Phải”. Thuần Vu Khôn lại hỏi tiếp: “Nếu như chị dâu đuối nước, có nên giơ tay ra cứu chị dâu không?” Mạnh Tử đáp: “Chị dâu bị đuối nước mà không cứu, người như vậy là lang sói. Nam nữ thụ thân bất thân là phép tắc lễ nghi; chị dâu đuối nước giơ tay ra để cứu, là ứng biến theo tình huống”.

Thuần Vu Khôn lại hỏi tiếp: “Hiện nay người trong thiên hạ đều đuối nước cả rồi, tại sao tiên sinh không đi cứu giúp?” Mạnh Tử bình tĩnh đáp lại: “Người trong thiên hạ đuối nước, nên dùng ‘đạo’ để cứu giúp; chị dâu đuối nước, nên dùng ‘tay’ để cứu giúp. Chẳng lẽ ngài muốn dùng tay để cứu người trong thiên hạ sao?”

Cách đặt câu hỏi theo hình thức ẩn dụ của Thuần Vu Khôn cố tình thiết lập tình cảnh “chị dâu đuối nước” để chất vấn học vấn của Nho giáo. Mạnh Tử là cao thủ thuộc hàng Thánh hiền, dùng quyền để giải thích lễ, biểu hiện ra tinh thần quyền biến đầy đủ tính nguyên tắc và tính linh hoạt của Mạnh Tử, cũng phản ánh được ảnh hưởng của trường phái Mạnh Tử đến sự phát triển của Nho giáo, đồng thời còn khiến cho Thuần Vu Khôn tâm phục khẩu phục.

[Còn tiếp…]

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||a7278f5d6__

Ad will display in 09 seconds