Lịch sử Trung Hoa xuất hiện rất nhiều mỹ nhân, họ không chỉ có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà phẩm đức và tài hoa của họ cũng đủ viết nên những giai thoại truyền kỳ. Mỗi khi mở trang sử chúng ta sẽ thấy được vì sao sự tao nhã vô song của họ được lưu truyền thiên cổ. 

Phần 1

Mỹ nhân Tây Thi nhẫn nhục phụ trọng

Bức tranh Tây Thi. (Ảnh: Wiki)

Tây Thi là một trong tứ đại mỹ nhân Trung Quốc cổ đại, nàng còn được biết đến với cái tên ‘Tây Tử’, Bạch Cư Dị từng làm bài thơ “Mẫu đơn”, trong đó viết: “Tuyệt đại chích Tây Tử, chúng phương duy mẫu đan” (Độc nhất vô nhị chỉ có Tây Tử, hoa đẹp muôn phương đứng đầu là mẫu đơn). Điều này có thể thấy nàng Tây Thi có nhan sắc tuyệt trần như thế nào. Tuy nhiên, điều khiến Tây Thi vinh danh thiên cổ lại chính là sự nhẫn nhục, hi sinh thân mình vì việc đại trung nghĩa. 

Tây Thi sinh ra cách đây 2500 năm trước tại một ngôi làng dưới chân núi Trữ La của nước Việt thời kỳ cuối Xuân Thu. Nàng vốn được cha mẹ đặt tên là Di Quang, con gái của người kiếm củi trên núi Trữ La.

Theo truyền thuyết, dưới chân núi Trữ La có hai ngôi làng là thôn Đông và thôn Tây, người dân đều mang họ Thi. Nàng Tây Thi được sinh ra ở làng thôn Tây này, sự đoan trang đức hạnh của nàng được xa gần biết đến, bởi thế người dân trong làng mới đặt cho nàng cái tên ‘Tây Thi’. 

Tương truyền, khi Tây Thi giặt vải bên bờ sông, mặt nước phản chiếu dung mạo xinh đẹp của nàng làm cá quên bơi, nên chìm dần xuống đáy, từ đó Tây Thi được mệnh danh là “mỹ nhân trầm ngư”.

Thành ngữ “Đông Thi bắt chước cau mày” trong tiếng Hán cũng xuất phát từ Tây Thi.

Kể rằng, lúc Tây Thi ôm ngực vì đau tim mà cau mày, cử chỉ này của nàng cũng khiến người động lòng. Thôn Đông có một cô gái khác tên là Đông Thi, dung mạo không ưa nhìn, nhưng nàng lại nghĩ rằng nếu học theo Tây Thi thì nàng cũng xinh đẹp, do vậy đã bắt chước hành động của Tây Thi ôm ngực cau mày. Tuy nhiên điều này lại khiến nàng càng trở nên xấu xí hơn.

Kỳ thực, cố sự về thành ngữ ‘Đông Thi bắt chước cau mày’ cũng nói cho chúng ta biết, làm người không thể mù quáng bắt chước theo người khác, cần dựa vào sự lương thiện, phẩm chất và tài năng riêng để tôn lên vẻ đẹp của chính mình. 

Năm 494 trước Công nguyên, hai nước Ngô – Việt giao chiến, nước Việt thất bại, Việt Vương Câu Tiễn buộc phải đầu hàng vua Ngô là Phù Sai để cầu hòa, đồng thời đích thân đến nước Ngô làm con tin ít nhất 3 năm.

Lúc đó, thần dân nước Việt một lòng muốn phục quốc rửa nhục, họ quyết tâm chăm lo việc nước để chấn hưng quốc gia, chuẩn bị cho sự nghiệp hưng Việt diệt Ngô. Lúc này, Tây Thi, người có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành được chọn để đưa vào cung nước Ngô. Mặc dù chỉ là một thôn nữ nhưng khi nhận được sứ mệnh lịch sử này, Tây Thi đã nỗ lực học tập lễ nghi cung đình cùng kỹ thuật ca múa nhạc.

Sau hơn 3 năm luyện gian khổ, Tây Thi đã trở thành một cung nữ giỏi ca múa, điêu luyện trong từng cử chỉ động tác. Giờ đây, nàng chẳng những có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà còn sở hữu kỹ thuật múa tuyệt diệu cảm động lòng người. Nàng am hiểu nhất là vũ điệu ‘Hưởng kịch vũ’ vô cùng nổi tiếng. Tây Thi, chân đi guốc gỗ, váy đeo chuông, nhẹ nhàng nhảy múa trên hành lang gỗ. Váy bay phấp phới, nhạc khúc cùng tiếng guốc gỗ đập xuống sàn và thanh âm chuông bên hông kết hợp lại khiến người xem say mê.

Bởi vì vậy mà từ khi Tây Thi vào cung, Ngô Vương Phù Sai chỉ say mê ca hát nhảy múa vui chơi. Còn Tây Thi, dù được nhà vua sủng ái, vẫn không quên sứ mệnh của mình. Nàng không say mê hưởng thụ vinh hoa phú quý mà chỉ một lòng chờ nước Việt đắc thời cơ tái khởi.   

Năm 482 trước Công Nguyên, nước Ngô và nước Việt tái chiến, Việt quốc đánh bại Ngô quốc. Tây Thi đã trở thành người có cống hiến to lớn giúp Việt Vương Câu Tiễn thành đại nghiệp, viết nên một đoạn lịch sử huyền thoại.

Từ một thiếu nữ xuất thân bình thường ở vùng sông nước Giang Nam, Tây Thi đã trở thành đại diện cho vẻ đẹp trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Nàng không chỉ có dung mạo mỹ lệ như tiên nữ mà còn thông tuệ vô tư, trung thành hiệp nghĩa. Trước tình cảnh quốc gia hưng vong, nàng chọn hy sinh cá nhân, mạo hiểm lấy thân báo quốc, bước lên vũ đài lịch sử trong cuộc chiến Việt – Ngô thời Xuân Thu. Nàng đã thành tựu mỹ danh thiên cổ và được các văn nhân mặc khách vinh tụng qua hàng ngàn năm qua. 

Điêu Thuyền lòng ôm đại nghĩa

Tranh vẽ minh họa cho Tam quốc diễn nghĩa, chương 3, có Đổng Trác, Lã Bố và Điêu Thuyền. (Ảnh: Wiki)

Điêu Thuyền không chỉ là một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa mà còn là một nữ kiệt yêu nước yêu dân, hiểu rõ đại nghĩa, dũng cảm trí tuệ.

Giai thoại kể rằng, khi Điêu Thuyền ra ngoài trời đêm bái trăng thì mây kéo đến che khuất mặt trăng. Từ đó, nàng được mọi người xưng tụng nhan sắc là “Bế nguyệt”, ý nói nhan sắc mỹ lệ đến nỗi trăng cũng phải giấu mình, e thẹn trốn sau đám mây. 

Truyền thuyết kể rằng vào những năm cuối thời Đông Hán, Điêu Thuyền sinh ra trong một gia đình bình dân ở một ngôi làng miền núi thuộc tỉnh Sơn Tây. Điêu Thuyền không chỉ rất xinh đẹp mà còn giỏi ca múa, rất được mọi người yêu mến. 

Lúc đó, Thái sư Đổng Trác là quan trọng thần của nhà Hán, nắm giữ và khống chế triều đình. Đổng Trác ngang nhiên phế bỏ hoàng đế nhỏ tuổi Lưu Biện, lập Lưu Hiệp làm hoàng đế mới.

Ở trong cung, ông ta tùy ý xử tử hậu phi và cung nữ của hoàng đế, ở trên triều thì tàn sát những quan đại thần bất đồng ý kiến, giết hại trung lương, phá hỏng lễ nghĩa cương thường. Không chỉ vậy, Đổng Trác còn tự ý hạ lệnh dời đô Trường An, phóng hỏa đốt thành Lạc Dương, khiến dân chúng tử thương không ít.

Vương triều Hán thất bị vây khốn trong nguy nan, vua và dân đều thống hận Đổng Trác, nhưng vì ông ta nắm trong tay quyền thống lĩnh quân đội, hơn nữa còn có nghĩa tử là Lã Bố trợ lực nên mặc dù các lộ hào kiệt đều đem binh thảo phạt Đổng Trác nhưng đều thất bại dưới tay ông ta. Đổng Trác giống như hổ lang giữa đường khiến cho cả triều văn võ không tìm ra kế sách nào khả thi. 

Đất nước loạn lạc, Điêu Thuyền lưu lạc đến kinh thành và trở thành ca nữ cho nhà Tư đồ Vương Doãn. Tư đồ Vương Doãn thấy đất nước đang đứng trước bờ diệt vong, dân chúng chịu khổ mà ngày đêm lao tâm nghĩ kế diệt trừ gian thần Đổng Trác.

Vào một đêm khuya, Vương Doãn đang lang thang một mình trong vườn, bỗng nghe thấy tiếng thở dài dưới ánh trăng trong đình mẫu đơn. Ông đi qua xem một chút thì thấy đó là Điêu Thuyền, một ca nữ 16 tuổi trong phủ. Ông liền hỏi nàng vì sao thở dài, Điêu Thuyền trả lời: “Từ khi đại nhân thu nhận con vào phủ, đối đãi với con ân trọng như núi, con chưa biết phải đền đáp thế nào. Gần đây thấy đại nhân luôn mặt ủ mày chau, nhất định là đại sự gặp nạn, nhưng lại không dám hỏi, vậy nên mới thở dài. Nếu như tài năng của con có thể giúp đại nhân chia sẻ khó khăn thì tốt rồi”. 

Vương Doãn thấy Điêu Thuyền có vẻ đẹp bất phàm, hơn nữa còn thông tuệ mạnh mẽ, trong đầu chợt nảy ra ý tưởng – ông nghĩ đến việc sử dụng ‘liên hoàn kế’ để trừ ác. Vì vậy, Vương Doãn nhận Điêu Thuyền làm nghĩa nữ, cùng nàng bàn bạc kế sách thực thi ‘Liên hoàn kế’. Trong lòng Điêu Thuyền hiểu rõ, tiến vào phủ Đổng Trác, đối diện với sự tàn bạo của ông ta thì bản thân sẽ giống như dê vào miệng cọp, có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng bất cứ lúc nào, nhưng vì quốc gia bách tính, Điêu Thuyền vẫn dũng cảm tiếp nhận nhiệm vụ Vương Doãn giao phó. 

Theo kế sách của Vương Doãn, Điêu Thuyền trở thành ca nữ được đưa vào phủ Đổng Trác. Sau khi vào phủ, Điêu Thuyền bắt khơi mào mâu thuẫn giữa hai cha con Đổng Trác và Lã Bố, khiến hai người nghi kỵ nhau, mượn tay Lã Bố giết Đổng Trác, tạo ra bước ngoặt lịch sử cứu vãn số phận quốc gia.

Có thể nói, vẻ đẹp của Điêu Thuyền có sức mạnh không khác gì thiên quân vạn mã, còn tấm lòng hiệp nghĩa của nàng thì không thua kém gì những anh hùng hào kiệt trong thiên hạ. 

Điêu Thuyền kiên định với tư tưởng trung nghĩa trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Khi đất nước gặp khó khăn, nàng ôm đại nghĩa trong lòng, mạo hiểm đứng ra, cùng với sự thông minh tài trí và dũng cảm hiệp nghĩa, nàng đã trừ được quốc tặc Đổng Trác. Nàng vì chính nghĩa hiến thân, vì xã tắc mà hi sinh bản thân khiến người đời xúc động, lưu danh thiên cổ. Trăm ngàn năm qua, vẻ đẹp của nàng cùng tích truyện về nàng vẫn được người đời sau ca tụng. 

Theo Epoch Times
San San biên dịch