Những người làm sử quan khi xưa cực kỳ xem trọng đạo đức nghề nghiệp, bất luận là đối mặt với cường quyền, đả kích, báo thù hay là uy hiếp đến mạng sống, thì họ vẫn luôn kiên trì với phẩm đức nghề nghiệp của mình, không chút nhượng bộ…

Mọi người chắc không còn xa lạ gì với ca phẩm “Chính khí ca” của danh tướng nhà Nam Tống – Văn Thiên Tường. Trong bài hát, ông liệt kê ra 12 trung thần nghĩa sĩ của tiền triều, trở thành tấm gương thiên cổ. Họ vì chính nghĩa mà sẵn sàng hy sinh tính mạng, đã chứng minh được tâm hồn thanh cao thuần khiết của mình trong lúc quốc gia lâm nguy. Hai nhân vật đầu tiên mà Văn Thiên Tường đưa ra chính là về hai vị sử quan của nước Tề và nước Tấn qua câu: “Tại Tề thái sử Giản, tại Tấn Đổng Hồ bút”.

Nói đến sử quan, đó là chức quan do một vương triều lập ra để ghi chép lại lịch sử của vương triều đó. Sử quan phải được tuyển chọn trong số những người có phẩm hạnh đoan chính, bởi vì công việc của họ là công việc vô cùng quan trọng, đó chính là ghi chép chính xác và chân thực về lịch sử. Công việc này thông thường đều là cha truyền con nối, anh chết thì em lên làm thay, không cần biết có thay đổi vương triều hay không thì cũng là đời đời làm quan.

Những người làm sử quan khi xưa cực kỳ xem trọng đạo đức nghề nghiệp, bất luận là đối mặt với cường quyền, đả kích, báo thù hay là uy hiếp đến mạng sống, thì họ vẫn luôn kiên trì với phẩm đức nghề nghiệp của mình, không chút nhượng bộ…

Sử quan trung lương của nước Tề

Vào thời kỳ Xuân Thu, khi đó đại thần chấp chính của nước Tề khi ấy là Thôi Trữ, dưới sự nâng đỡ của Thôi Trữ, Tề Trang Công – Khương Quang mới có thể lên làm quốc quân của nước Tề. Tuy nhiên Tề Trang Công lại cực kỳ ham mê sắc đẹp, và một điều vô cùng quá đáng chính là ông ta vong ân phụ nghĩa, đem lòng yêu thích người vợ xinh đẹp tên Đường Khương của Thôi Trữ, và qua lại bất chính với vợ của Thôi Trữ một cách trắng trợn. Sau khi Thôi Trữ biết chuyện này đã vô cùng tức giận. Thế là ông bày mưu giết chết Tề Trang Công, nâng đỡ em trai của Tề Trang Công là công tử Xử Cữu lên làm quốc quân, còn bản thân ông tự phong cho mình làm tướng quân, nắm mọi quyền lực trong tay. Tuy nhiên có một điều khiến cho ông rất đau đầu, đó chính là Thái sử lệnh của nước Tề sẽ viết đoạn lịch sử không chút vẻ vang này như thế nào đây? Điều này khiến cho Thôi Trữ cảm thấy rất bất an, ông không muốn bản thân phải gánh tội danh loạn thần tặc tử trên người. (Một số tài liệu dịch tên của Tề Cảnh Công thành Chử Cữu là không chính xác, chính xác theo Hán Việt là Xử Cữu).

Vì để thoát khỏi tình cảnh ngượng ngùng khi mà tiếng xấu lưu truyền đến các đời sau, Thôi Trữ ra lệnh cho Thái sử Bá của nước Tề sửa đổi lịch sử, đem cái chết của Tề Trang Công viết thành do mắc bệnh kiết lỵ mà qua đời. Đối mặt với sự uy hiếp của Thôi Trữ, vị Thái sử này cầm bút lên suy nghĩ một lúc, sau đó ghi chép lại sự việc này theo đúng sự thật: “Tháng 5 mùa hè năm Ất Hợi, Thôi Trữ giết chết vua Quang”. Thôi Trữ thấy vậy vô cùng tức giận, liền cầm đao chém chết vị Thái sử Bá anh dũng này.

Ảnh: NTD.

Trong thời cổ xưa, chức vụ Thái sử đều là cha truyền con nối, anh trai chết thì em trai lên thay thế, gia tộc của vị Thái sử Bá qua nhiều đời đều làm chức vụ biên sử cho nước Tề. Gia đình ông có tổng cộng bốn anh em, gồm Bá, Trọng, Thúc, Quý. Vì vậy sau khi người anh cả là Thái sử Bá chết, Thôi Trữ tìm đến người em trai thứ hai của Thái sử Bá là Thái sử Trọng, và cũng uy hiếp Thái sử Trọng sửa đổi lịch sử.

Nhưng kết quả vẫn không thay đổi, người em trai thứ hai này vẫn viết là “Thôi Trữ giết vua Quang”. Thế là vị Thái sử Trọng này cũng bị Thôi Trữ giết chết.

Tương tự, đến người em trai thứ ba là Thái sử Thúc, đối mặt với sự uy hiếp của Thôi Trữ, Thái sử Thúc vẫn ghi chép lại câu đó: “Thôi Trữ giết chết vua Quang”, kết quả cũng bị Thôi Trữ giết chết ngay tại chỗ.

Thế là đến lượt người em út là Thái sử Quý, người này không đợi Thôi Trữ phải nhiều lời, Thái sử Quý viết sẵn từ trước: “Thôi Trữ giết vua Quang”. Thôi Trữ thấy vậy rất tức giận, vội vàng hỏi: “Cả nhà ngươi đều không sợ chết sao? Chỉ còn lại một mình ngươi thôi, nếu chết nữa thì trong gia tộc sẽ không còn ai nối dõi nữa”. Thái sử Quý trả lời rằng: “Cho dù người khác không nhìn thấy ông giết chết quốc quân, nhưng trong dân gian cũng sẽ lan truyền khắp nơi; cho dù tôi không ghi chép, thì cũng sẽ có người ghi chép mà thôi, đây là sự thật, ông muốn che giấu cũng không che giấu được. Huống hồ nghề của gia đình chúng tôi chính là ghi chép lại sự thật lịch sử của nước Tề. Cho dù tôi rất sợ hãi, nhưng nếu như vì để giữ mạng sống mà sửa đổi lịch sử, chi bằng cho tôi chết ngay bây giờ”.

Thôi Trữ nghe xong liền thở dài một tiếng, chuyện đã đến nước này, ông cũng không có gì để nói nữa, cuối cùng ông cũng ý thức được cả gia đình của Thái sử không sợ chết, ông đành phải chịu thua. Ông lặng lẽ vẫy tay ra dấu cho Thái sử Quý lui xuống, một mình ông ngồi im ở đó đờ đẫn hồi lâu.

Vị Thái sử trẻ tuổi kiên trì nguyên tắc của mình nhanh chóng rời khỏi phủ Tể tướng, trên đường quay trở về nhà, ông gặp một sử quan khác của nước Tề là Nam Cung Thị đang vội vàng đi đến phủ Tể tướng. Khi Nam Cung tiên sinh nhìn thấy vị Thái sử Quý trẻ tuổi, ông vô cùng kinh ngạc hỏi rằng: “Sao cậu vẫn chưa chết hả?”, sau đó liền nói: “Đưa đây, tôi muốn xem bản thảo lịch sử của cậu viết những gì?” Sau khi Nam Cung nhìn thấy Thái sử Quý ghi chép rõ ràng là “Thôi Trữ giết vua”, ông mới thở phào nhẹ nhõm như trút được một gánh nặng trên người xuống.

Thì ra nước Tề ngoài chức quan Thái sử lệnh ra, còn có một sử quan gọi là Nam Cung Thị. Vị Nam Cung tiên sinh này nghe nói Thái sử Quý cũng bị Thôi Trữ gọi đi viết sử, đoán rằng anh ta cũng sẽ bị Thôi Trữ giết chết giống như ba người anh trai của mình. Vì vậy Nam Cung tiên sinh vội vàng chạy đến, chuẩn bị thay anh em thái sử hoàn thành sứ mệnh, đem chuyện Thôi Trữ giết chết quốc quân ghi chép vào sử sách. Trên tay ông cầm vài cuộn thanh tre, trong đó viết sẵn nội dung giống hệt những gì mà thái sử Quý viết: Tháng 5 mùa hè năm Ất Hợi, Thôi Trữ giết chết vua Quang. Sau khi Nam Cung tiên sinh thấy thái sử Quý đã ghi chép đúng sự thật, ông mới yên tâm quay về.

Ảnh: NTD.

Thái sử lệnh Đổng Hồ của nước Tấn

Tương truyền vào thời kỳ Xuân Thu, sau khi Tấn Linh Công lên ngôi, ngu si bất tài, không chút đạo nghĩa, tàn bạo hoang dâm. Tướng quốc Triệu Thuẫn của nước Tấn một lòng muốn Tấn Linh Công khôi phục sự nghiệp vĩ đại trong thời của Tấn Văn Công, nên nhiều lần khuyên ngăn Tấn Linh Công phải nghĩ cho nước Tấn. Nhưng Tấn Linh Công không những không nghe, mà còn ôm hận trong lòng, bí mật phái thích khách đi ám sát Triệu Thuẫn. Tuy nhiên, tên thích khách này thấy Triệu Thuẫn là một vị trung thần, anh ta không muốn làm chuyện trái với lương tâm. Nhưng nếu như không giết Triệu Thuẫn thì quốc quân chắc chắn không tha cho anh ta, vì vậy anh ta đành phải chọn cách tự sát.

Sau chuyện này, Tấn Linh Công vẫn không tỉnh ngộ, ông lại tiếp tục sai người đi mời Triệu Thuẫn vào cung dự tiệc, bí mật phái quân lính mai phục ở xung quanh, kêu bọn họ tìm cơ hội ra tay giết chết Triệu Thuẫn. Nhưng trùng hợp là chuyện này bị đám vệ sĩ của Triệu Thuẫn phát hiện, bọn họ bảo vệ Triệu Thuẫn an toàn rời khỏi nơi nguy hiểm. Thế là Triệu Thuẫn và con trai ông là Triệu Sóc buộc phải chạy trốn sang nước khác để tránh bị quốc quân hãm hại lần nữa. Khi vẫn chưa ra khỏi nước Tấn, trên đường bỏ trốn thì tình cờ gặp được anh rể của Tấn Linh Công là Triệu Xuyên. Sau khi Triệu Xuyên nghe xong mọi chuyện đã vô cùng tức giận, ông chạy đi tìm Tấn Linh Công để nói lý lẽ, tuy nhiên Tấn Linh Công không những không nghe, ngược lại còn nói những lời ác độc với Triệu Xuyên. Trong tình huống bất đắc dĩ không còn cách nào khác, Triệu Xuyên đành phải ra lệnh cho đám vệ sĩ xông lên giết chết Tấn Linh Công.

Sau khi Triệu Thuẫn nghe được chuyện này, ông lập tức quay trở về nước Tấn, lập chú của Tấn Linh Công là Hắc Đồn lên làm quốc quân, trở thành Tấn Thành Công.

Sau này, Triệu Thuẫn muốn biết sử quan sẽ đánh giá chuyện này như thế nào, thế là ông cho gọi Thái sử lệnh Đổng Hồ của nước Tấn đến, hỏi Đổng Hồ về những vấn đề liên quan. Đồng Hồ lấy bản ghi chép ra đưa cho ra Triệu Thuẫn, bảo Triệu Thuẫn tự mình xem. Triệu Thuẫn nhìn thấy trong đó viết là “tháng 7 mùa thu, Triệu Thuẫn giết vua”, và được biết chuyện này đã công bố lên trên triều đình. Triệu Thuẫn chất vấn Đổng Hồ rằng: “Ai cũng đều biết, tiên quân không phải do ta giết chết, đám sử quan các ông sao lại bắt ta gánh tội danh chứ?”

Đổng Hồ trả lời rằng: “Ông giữ chức vị tướng quốc, từng chạy trốn nhưng chưa ra khỏi lãnh thổ, sau khi quay về lại không trừng phạt hung thủ. Đây không phải trách nhiệm của ông, thì là trách nhiệm của ai chứ?”

Triệu Thuẫn nghe xong không thể đối đáp lại, đành để mặc Đổng Hồ viết vào sử sách. Đổng Hồ tôn trọng sự thật lịch sử, dám viết thẳng vào sách, cũng là một sử quan chính trực không sợ quyền quý. Khổng Tử khen ngợi ông rằng: “Cách viết chân thực, sử quan trung lương của thời xưa”.

Khởi cư chú của hoàng đế

“Khởi cư chú” là một hình thức sử sách của khu vực Đông Á thời xưa, là biên niên sử, cũng chính là một phương pháp lấy thời gian xảy ra sự kiện làm thứ tự để biên soạn và ghi chép lịch sử. Đặc điểm của khởi cư chú nằm ở chỗ, nó là sử sách do chức vị sử quan Khởi cư xá nhân (tức Khởi cư lang) chuyên môn ghi chép lại hành vi và lời nói hàng ngày của hoàng đế theo từng thời gian cụ thể.

Thời xưa ngoại trừ thái sử lệnh, còn có một loại sử quan gọi là “khởi cư lang”, chức trách của khởi cư lang là biên soạn khởi cư chú của hoàng đế, đây là cuốn sổ chuyên ghi chép lại lời nói và hành vi của hoàng đế trong thời xưa. Được xuất hiện chính thức trong thời nhà Hán, nội dung của nó bao gồm việc ăn mặc đi đứng nằm ngồi của hoàng đế, và các hoạt động của hoàng đế như: ở trong cung nghe chuyện chính trị, lên triều, dự tiệc, tham gia các buổi tế lễ, săn bắn v.v… tất cả những điều này đều do Khởi cư lang ghi chép lại.

Bởi vì công việc của khởi cư lang vốn dĩ là ghi chép lại tình hình thực tế của đế vương, mục đích là để các hoàng đế đời sau lấy đó làm gương, vì vậy khởi cư chú được xem là cơ mật trọng tâm của cung đình, phạm vi được phép xem cực kỳ bị giới hạn, cho dù là bản thân hoàng đế cũng không được xem, vì vậy về mặt khách quan mà nói nó có tác dụng nhất định trong việc kiểm soát lời nói và hành vi của đế vương. Cũng bởi thế, công việc này yêu cầu rất nghiêm khắc, khởi cư lang cần phải viết đúng sự thật, không che giấu cái xấu, không phóng to cái đẹp. Nếu người nào tùy tiện viết theo ý của mình, chắc chắn bị cắt chức và nghiêm trị.

“Đại Đường Tân ngữ quyển 3” ghi chép, trong những năm Trinh Quán của nhà Đường, nhà chính trị và cũng là nhà thư pháp Trữ Toại Lương đảm nhận chức khởi cư lang, còn gọi là khởi cư xá nhân. Một hôm, Thái Tông hỏi Toại Lương: “Khanh quản lý ghi chép khởi cư chú, đã ghi chép về ta những gì? Ta là hoàng đế có thể xem qua một chút không?”, Trữ Toại Lương lập tức từ chối. Ông nói với Đường Thái Tông: “Khởi cư chú của hôm nay, cũng giống tả, hữu sử của thời xưa, ghi chép từng lời nói hành động của quân vương, đồng thời tất cả việc làm tốt hay xấu đều ghi chép lại, để làm bài học, để hạn chế quân vương không nói những lời phi pháp, không làm những chuyện phi pháp. Còn về việc hoàng đế muốn đích thân xem khởi cư chú, đây là điều chưa từng có trước đây”.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân (ảnh: Bảo tàng Cố cung Quốc gia).

Đường Thái Tông lại hỏi: “Nếu như ta có hành vi không tốt, ai khanh cũng nhất định ghi chép sao?” Trữ Toại Lương trả lời rất cứng rắn, ông nói: “Tuân thủ đạo lý không bằng tuân thủ chức trách làm quan, chức trách của thần chính là ghi chép lời nói và hành vi của quân vương, cho dù quân vương có bất cứ hành vi gì, thần đều phải ghi chép hết”.

Cũng may Đường Thái Tông là một vị vua sáng suốt, không so đo với sự kiên định của Trữ Toại Lương. Hơn nữa, sau này trước khi Đường Thái Tông qua đời, còn ủy thác Toại Lương làm một trong những đại thần phó tà chính sự cho tiểu hoàng đế. Chính vì Đường Thái Tông Lý Thế Dân có thể kiểm soát hành vi của chính mình, tin tưởng những quan viên chính trực dám nói thẳng, nên mới có thành tích “Trinh Quán chi trị”, Đại Đường thịnh thế, và để lại tấm gương trị vì đất nước cho người đời sau.

Sau này, Đường Văn Tông – Lý Ngang cũng rất tò mò về khởi cư chú của mình, muốn xem qua một chút, nhưng khởi cư xá nhân đương nhiệm khi ấy là Ngụy Mô đã thẳng thắn từ chối. Lý Ngang nói: “Trước đây ta đã từng xem qua rồi!” Ngụy Mô trả lời: “Đó là sử quan của trước đây không làm tròn trách nhiệm. Giả sử hoàng thượng đích thân xem khởi cư chú, khi sử quan thực hiện nhiệm vụ sẽ có những kiêng dè, những gì ghi chép lại làm sao có thể khiến người đời sau tin tưởng chứ!” Lý Ngang nghe Ngụy Mô nói vậy cũng đành thôi.

Người xưa nói: “Đọc sử có thể khiến người ta mở mang trí tuệ”. Trong thời cổ đại không chỉ là sử quan, mà nhóm người chủ đạo trong toàn bộ xã hội cũng tương đối lương thiện. Vậy thì thước đo cơ bản nhất để đánh giá một người có lương thiện hay không chính là xem người đó có thành thật hay không. Cũng có nghĩa là phải xem người đó có “Chân” hay không. Vì vậy, người xưa rất ít nói lời giả dối, mà toàn nói những lời thật lòng, làm những việc chân thật, ngay cả các thương nhân khi kinh doanh cũng không dối gạt người. Tư tưởng làm người phải chân thành cũng ăn sâu vào trong xương tủy của người xưa.

Thật ra không ghi chép giả dối không chỉ là nguyên tắc của sử quan, mà là giá trị phổ quát trong toàn xã hội thời bấy giờ, giá trị này cũng là tố chất cơ bản của con người. Trong thời xưa có vô số trường hợp thà hy sinh mạng sống vẫn phải duy hộ sự thật, những trường hợp đó nhiều đến nỗi không thể đếm hết được. Giống như mấy sử gia được nhắc đến trong bài viết này là rất bình thường trong thời xưa, không ai cảm thấy kinh ngạc gì cả. Chỉ là đạo đức của con người ngày nay đã trở nên bại hoại, vì lợi ích của bản thân mà nói dối, thậm chí có những kẻ không từ thủ đoạn, ngay cả giết người cũng dám làm, không việc ác gì không làm. Vì vậy họ căn bản cũng không thể nào hiểu được cảnh giới của người xưa.

Theo Sound of Hope
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

Lịch sử che giấu tội ác của chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc

videoinfo__video3.dkn.tv||50949d31a__

Ad will display in 09 seconds