Trên mảnh đất Thần Châu rộng lớn, Phật giáo trong lịch sử đã kinh qua bốn lần Pháp nạn, nhưng không có Pháp nạn nào triệt để và tà ác như việc ĐCSTQ hủy diệt Phật giáo, Phật giáo tại Trung Quốc ngày nay chỉ còn là ‘danh tồn thực vong’…

Lịch sử Trung Quốc qua các triều đại từ xưa đến nay, Phật giáo đã trải qua bốn lần Pháp nạn, nhưng khi luận về phạm vi, mức độ, thủ đoạn, và thời gian kéo dài, v.v.. đều không thể sánh được về mức độ bức hại và hủy diệt đối với Phật giáo kể từ khi ĐCSTQ thiết lập chính quyền. Thủ đoạn diệt Phật của ĐCSTQ biến hóa đa đoan và lấn lướt theo thời gian, khi thì hung tàn man rợ, khi thì dối trá lừa phỉnh, đầy mưu ma chước quỷ. Mục tiêu tối chung của nó là: Tiêu hủy tất cả các tôn giáo hiện hữu trên Địa cầu, tiêu hủy tín ngưỡng của con người đối với Thần Phật.  

“Tam Vũ nhất Tông” và ĐCSTQ: Ai tàn bạo hơn?

Tại mảnh đất Thần Châu, Phật giáo đã trải qua bốn lần Pháp nạn, đều không có Pháp nạn nào triệt để và tà ác bằng ĐCSTQ tiêu diệt Phật giáo.

Bốn lần Pháp nạn của Phật giáo trong lịch sử Trung Quốc đều do ba vị hoàng đế có hiệu là “Vũ” và một vị hoàng đế có hiệu là “Tông” tiến hành, nên còn được gọi là “Tam Vũ nhất Tông”. Nguyên nhân khiến bốn vị hoàng đế này đàn áp Phật giáo chủ yếu là vì cần kim tiền và binh lực để chiến đấu, mà Phật giáo đương thời đều cực kỳ hưng thịnh, chùa chiền giàu có và có rất nhiều tăng nhân, hoàng đế muốn huy động những tăng nhân đó vào quân đội, do vậy tịch thu tài sản của nhà chùa và cưỡng bách tăng nhân hoàn tục làm binh lính – một mũi tên trúng hai đích. Bắc Ngụy Thái Vũ Đế và Đường Vũ Tông thì còn bởi những nguyên nhân phức tạp khác, vì tín ngưỡng Đạo giáo mà nghe người khác xúi giục, đàn áp Phật giáo.

Trong số bốn lần kiếp nạn này, lần ngắn nhất kéo dài chỉ 8 tháng, và lần dài nhất cũng không quá 6 năm. Nhưng kể từ khi ĐCSTQ soán đoạt quyền lực, nó đã liên tục trừ khử mọi vật thể hữu hình và ý thức tín ngưỡng vô hình hiện hữu của tôn giáo, cho đến nay vẫn không dừng lại; bất luận về phạm vi, mức độ, thủ đoạn hay thời gian đều là vô tiền tuyệt hậu, khiến cho Phật giáo chỉ còn tồn tại ở Trung Quốc trên danh nghĩa.

Chính sách tôn giáo bất biến của ĐCSTQ: Cuối cùng xóa bỏ mọi tôn giáo

ĐCSTQ tự xưng là một đảng vô thần luận, với bản chất cừu thị, thù địch với hết thảy các tôn giáo và nguyện vọng tín ngưỡng của nhân loại. Theo các nguồn tin quen thuộc với vấn đề này, Diệp Tiểu Văn, khi đó là người đứng đầu Cục Quản lý Nhà nước về các vấn đề tôn giáo của ĐCSTQ, đã đề cập đến các chính sách tôn giáo của ĐCSTQ trong một bài phát biểu nội bộ vào tháng 8 và tháng 9 năm 1999, tuyên xưng rằng, một mục tiêu trọng yếu và nhiệm vụ tối chung gian khổ hơn của Cộng sản đảng là phải xóa bỏ tất cả các tôn giáo và tín ngưỡng đối Thần Phật của nhân loại trên Địa cầu.

Để đạt được mục tiêu tiêu diệt Phật giáo, ĐCSTQ biết rằng nếu chỉ dựa vào những thủ đoạn như phá hoại chùa chiền, đốt kinh sách và cưỡng bức các tăng nhân hoàn tục thì không thể hoàn thành nhiệm vụ, mà cần sử dụng tà chiêu của u linh được truyền thụ từ phương Tây. Lê-nin từng nói rằng “pháo đài dễ đánh phá nhất là từ ​​bên trong”. Là hậu duệ của chủ nghĩa Mác-Lê, ĐCSTQ tự nhiên coi đó là kim chỉ nam, dụng thâm kế này để đối phó với Quốc dân đảng, lật đổ chính quyền hợp pháp và chiếm lĩnh Trung Quốc đại lục.

ĐCSTQ lại dùng chiêu này để đối phó với Phật giáo, vốn không có bất kỳ năng lực chống trả nào; làm sụp đổ Phật giáo từ bên trong chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng nếu bạn nghĩ rằng ĐCSTQ triệt tiêu Phật giáo thì coi như xong việc, đó là đánh giá quá thấp sự tà ác của ĐCSTQ. Nó bảo lưu lại hình thức bề ngoài của Phật giáo, nhưng hủy diệt nội hàm và tinh túy chân chính của Phật giáo từ bên trong, thay thế nó bằng văn hóa đảng của ĐCSTQ, khiến cho Phật giáo hiện đại chỉ như một lớp họa bì, bị ĐCSTQ khoác lên mình, dùng nó để mê hoặc thế nhân.

Bức ảnh chụp một tăng nhân tham dự Lưỡng Hội của ĐCSTQ vào ngày 8 tháng 3 năm 2013. (Feng Li / Getty Images)

Thời kỳ mới thống trị: những người bất phục bị xử lý nghiêm khắc, nội bộ tan rã

Linh mục người Bỉ Raymond J. de Jaegher từng đến Trung Quốc vào khoảng năm 1930 để truyền giáo, và rời Hoa lục vào năm 1949. Trong hồi ký sau này của mình, ông viết về kinh nghiệm mà ông đã tận mắt chứng kiến: “Tôi thấy đảng Cộng sản đi đến đâu, nhất định nơi đó Phật giáo bị tịch thu tài sản, hòa thượng bị tàn sát, hoặc bị trục xuất khỏi chùa, hoặc biến họ thành hành khất, khiến người dân mất đi sự an ủi tinh thần đã có từ hàng trăm ngàn năm”.

ĐCSTQ không dừng tay sau khi nắm chính quyền, tiếp tục hủy chùa đốt kinh, tịch thu tài sản của chùa chiền, cưỡng bức các tăng ni tham gia lao động và học tập tư tưởng Mác-Lê, thậm chí còn buộc họ phải kết hôn hoàn tục; Ví dụ trong năm 1951, vào đêm trước ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Liên hội trưởng Phụ nữ Hồ Nam – Trường Sa lệnh cho các nhà sư nữ toàn tỉnh phải “quyết định kết hôn” nội trong vài ngày. Các nhà sư nam bất tuân theo mệnh lệnh của ĐCSTQ đã bị đưa ra mặt trận làm bia đỡ đạn trong Chiến tranh Triều Tiên.

Lão hòa thượng Hư Vân thuộc thế hệ đại cao tăng cuối thời nhà Thanh và đầu thời Trung Hoa Dân Quốc, từ Từ Hi Thái hậu đến Tôn Trung Sơn và Tương Trung Chính tiên sinh đều vô cùng tôn kính ông. Nhưng dưới sự cai trị của ĐCSTQ, vị lão hòa thượng đức cao vọng trọng không tranh với đời này đột nhiên bị coi là “phần tử phản cách mạng” trong cuộc vận động “trấn phản” năm 1951 của ĐCSTQ. Quân đội và cảnh sát đã xông vào tự viện, đánh đập lão hòa thượng khả kính đã 112 tuổi. Ông bị đập vào đầu tới tóe máu, xương sườn bị gãy. Ngày hôm sau, khi thấy lão hòa thượng Hư Vân vẫn chưa chết, họ tiếp tục đánh đập ông, rồi khóa ông trong phòng sư trụ trì, không cho ăn, để ông tự sinh tự diệt. 26 nhà sư khác trong chùa đã bị bắt và bị giam cầm tại huyện thành. Lão hòa thượng nhắm mắt bất động, tám ngày sau mới xuất định, chứng kiến tất cả những gì ông làm cả đời đã bị ĐCSTQ hủy tất đãi tận.

Lão hòa thượng Hư Vân, vị cao tăng vào cuối thời nhà Thanh và đầu thời Trung Hoa Dân Quốc. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Hòa thượng Phật Nguyên vì để rửa sạch tội danh cho lão hòa thượng Hư Vân, đã thỉnh cầu người dân khắp nơi chuyển tin tức cho các lãnh đạo cấp cao của ĐCSTQ từ Bắc Kinh hạ lệnh thả người, qua đó mới tạm thời dừng lại cơn phong bạo. Nhưng vào năm 1958, lão hòa thượng Hư Vân, lúc này đã 119 tuổi, bị đả thành “hữu phái”, bị nhốt vào “chuồng bò”, cuối cùng ông mang thân thể già yếu, bệnh tật mà ly thế. Còn hòa thượng Phật Nguyên, người vì ông mà bôn tẩu cầu xin cứu người, cũng bị liên lụy và bị giam vào ngục cấm trong ba năm. Một hòa thượng khác tên là Định Trì, người đã thay Hư Vân mà nói lời công đạo, cũng đồng dạng bị ĐCSTQ gán cho là “hữu phái” và bị bỏ tù 5 lần.

ĐCSTQ một mặt đàn áp dã man những người xuất gia tu hành trì giới, mặt khác lại tích cực khuyến khích thành lập các tổ chức Phật giáo. Năm 1952, ĐCSTQ cử Trưởng ban Công tác Mặt trận Thống nhất tham gia triệu khai hội nghị thành lập “Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc” (gọi tắt là “Trung Hiệp Hội”).

Hội nghị đã thảo luận những nghị đề về tôn chỉ, nhiệm vụ và tổ chức của Hiệp Hội, những cái được gọi là “đề xuất của giáo đồ” về “tự do tín giáo, tăng ni kết hôn, uống rượu ăn thịt, đều nên làm, ai cũng không thể quản”, những kiến nghị như “phế trừ thanh quy giới luật” v.v., lấy lý do là vì những quy định đó “hại chết không biết bao nhiêu nam nữ thanh niên”. Mặc dù những ý kiến hoang đường như vậy đã bị khước từ trước sự phản đối của vị đại lão hòa thượng Hư Vân, nhưng ma chướng của các tăng ni tu hành bại hoại không dừng lại ở đó, mà tiếp tục gặm nhấm ăn mòn và làm mục nát chính tín của các đệ tử của Phật môn.

“Thư khởi xướng của Trung Quốc Phật giáo Hiệp Hội” được phát hành sau cuộc họp nêu rõ rằng: Hiệp hội được thành lập phải “nằm dưới sự lãnh đạo của chính quyền nhân dân” tích cực tham gia sản xuất, xây dựng và thực hiện triệt để các chính sách của chính phủ. Nói cách khác, mặc dù Trung Hiệp hội được thành lập vào năm 1953 dưới cái danh “Phật giáo”, nhưng về bản chất, nó là một tổ chức chính trị thế tục, dưới sự lãnh đạo của chế độ chuyên chính vô thần của ĐCSTQ và là một tổ chức liên kết phục vụ các chính sách của ĐCSTQ. 

Mặc dù Trung Hiệp Hội được thành lập vào năm 1953 với cái danh “Phật giáo”, nhưng về bản chất, nó là một cơ cấu chính trị có tính thế tục, chịu sự lãnh đạo của chính quyền chuyên chính vô thần luận của ĐCSTQ, và là một tổ chức trực thuộc phục vụ các chính sách của ĐCSTQ. (Ảnh: Phạm vi công cộng)

Những nhân sĩ tôn giáo và hoà thượng chính trị này tiếp thụ sự lãnh đạo của ĐCSTQ, có thể vì nhu cầu phối hợp với chính sách của ĐCSTQ tại những thời kỳ khác nhau mà biên tạo ra nhiều thuyết pháp hoang đường, ví như: “Tôn giáo là chân lý, xã hội chủ nghĩa cũng là chân lý”, “bên này hay bên kia đều không mâu thuẫn” v.v., thậm chí cả những ngôn từ bất nhân, như “giết bọn phản cách mạng là từ bi cường đại”… họ cũng đều dám nói.

Trung Hiệp hội cho đến nay đã trải qua mười phiên họp, và hầu hết bảy vị Hội trưởng trước và sau đều do các pháp sư hoặc trưởng lão đảm nhiệm, trong đó có tới ba người có chức danh chính trị. Đó là: Hỷ Nhiêu Gia chủ trì khóa 2, 3; Triệu Phác Sơ chủ trì khóa 4, 5, 6; Thích Học Thành chủ trì khóa 9. Hiện vẫn chưa rõ ba người này có nhiệm vụ gì đặc biệt, nhưng điều kỳ lạ là sau này trong Phật giáo đã xảy ra một chuyện, mà cả ba người này đều có phận.

(Còn nữa)

Tác giả: Thái Đại Nhã – Epoch Times
Mộc Lan biên dịch

Từ Khóa: