Vào những năm Sùng Trinh cuối triều Minh, ôn dịch hoành hành khắp nơi, 40 % dân chúng trong thành tử vong, quân đội triều Minh không còn sức chiến đấu vì bị cảm nhiễm rất nhiều.

Tốc độ lây lan của dịch bệnh rất cao, nhưng trước khi quân của Lý Tự Thành tiến nhập Bắc Kinh, thì điều kỳ lạ quân đội của Lý Tự Thành không có một ai bị cảm nhiễm, sau khi vào thành mới bắt đầu cảm nhiễm. 

Quân Thanh ở Đông Bắc nhập quan tiến đánh Bắc Kinh, đánh đuổi Lý Tự Thành, nhưng điều kỳ lạ nữa là: quân đội Mãn Châu cũng không ai bị cảm nhiễm.

Những điều trên thật khó giải thích, rốt cuộc sự thể ra làm sao, và làm thế nào để tránh được ôn dịch?

Trong chương trình ‘Chính luận thiên hạ‘ đăng ngày 27/12/2022, nhân nói về tình hình dịch bệnh ở Trung Quốc, Giáo sư Chương Thiên Lượng chủ yếu lấy tư liệu lịch sử vào cuối triều Minh để đàm luận về vấn đề trên như sau.

Ôn dịch vào cuối triều Minh: quân Thanh không bị cảm nhiễm

Nhân câu chuyện về tình hình dịch bệnh ở Trung Quốc, Giáo sư Chương Thiên Lượng hồi tưởng về một vấn đề là: làm thế nào để tránh được ôn dịch. Đương nhiên có người nói là rửa tay sạch, đeo khẩu trang… là phương thức phòng vệ của một người bình thường, nhưng hôm nay Giáo sư Chương muốn nói một phương pháp tránh được ôn dịch khác. 

Giáo sư Chương nói rằng, rất nhiều người biết rằng Giáo sư Chương từng làm một loạt bài lịch sử quy mô lớn là ‘Tiếu đàm phong vân’, trên cơ bản là đem chính sử của Trung Quốc giảng một lần, từ Đông Chu liệt quốc đến Minh mạt (cuối triều Minh). 

Kỳ thực khi Giáo sư Chương Đọc lịch sử đã phát hiện một hiện tượng chính là: mỗi lần vương triều đi vào thời kỳ cuối, thường sẽ phát sinh ôn dịch, giống như trong 70 năm cuối cùng của triều Thanh, thì có 50 năm đều phát sinh ôn dịch. Những năm cuối triều Minh khi Sùng Trinh làm Hoàng đế, ôn dịch xuất hiện không ngừng. Sùng Trinh làm Hoàng đế 17 năm, từ 1627 đến 1644, thì ôn dịch xuất hiện không ngừng, hơn nữa thời ấy còn xuất hiện thời kỳ tiểu băng hà khiến lương thực không đủ. 

Giống như vào cuối thời Đông Hán, trước khi Hoàng cân quân chi loạn (黃巾軍之亂: loạn giặc khăn vàng), thì ôn dịch cũng hoành hành. Thời kỳ Hán Linh Đế, thì hầu như nhà nhà đều có người tử vong, hơn nữa tốc độ lây lan còn rất cao.

Chúng ta biết rằng triều Hán có một thầy thuốc rất nổi tiếng tên là Trương Trọng Cảnh, trong Trung y gọi ông là Y Thánh. Vì sao ông được gọi là Y Thánh? Bởi vì thời Đông Hán hoành hành một chủng bệnh cảm thương hàn, bệnh thương hàn khiến vô số người tử vong, bao gồm cả người nhà của Trương Trọng Cảnh, cũng có khoảng 60 % người tử vong. Cho nên sau đó Trương Trọng Cảnh vì để chữa bệnh thương hàn nên đã viết rất nhiều sách, trong đó có cuốn ‘Thương hàn tạp bệnh luận’, chính là nhắm vào căn bệnh thương hàn này.

Nhưng ôn dịch có một hiện tượng rất kỳ lạ đó là: ôn dịch chỉ cảm nhiễm cho một nhóm người nhất định, còn một số khác lại không bị cảm nhiễm. Đây là việc như thế nào?

Giáo sư Chương đã kể câu chuyện về Lý Tự Thành. Trước khi Lý Tự Thành tấn công Bắc Kinh, kỳ thực quân đội của Lý Tự Thành bị quân triều đình nhà Minh đánh cho bỏ chạy, lúc thảm nhất, Lý Tự Thành chỉ còn lại 18 người bên mình, bị vây khốn ở núi Thương Lạc, nhưng sau đó vì sao ông lại chuyển mình để tiêu diệt vương triều Đại Minh?

Khi Lý Tự Thành xuất binh là tháng Giêng năm 1644, vừa mới qua Tết Nguyên Đán, ông từ Tây  An tỉnh Thiểm Tây một mạch tấn công về phía đông đến Bắc Kinh. Mà Tây An cách Bắc Kinh bao nhiêu? 3 giờ bay. Nếu quy thời gian để mọi người dễ hiểu, thì 3 giờ bay là gấp đôi thời gian bay từ Hà Nội – Sài Gòn, chính là xa như thế. Nhưng một đường xa như thế mà quân đội Lý Tự Thành không vấp phải bất cứ phản kháng nào để tấn công Bắc Kinh. 

Tranh vẽ Lý Tự Thành trong ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 5 tập 34: Thanh binh nhập quan.

Vì sao? Bởi vì ôn dịch hoành hành đã khiến sức chiến đấu của quân đội triều Minh về 0. Vào mùa đông năm Sùng Trinh thứ 16, khi đó 40 % người ở kinh thành tử vong vì dịch hạch, người chết nhiều đến mức quan tài làm không kịp. Căn cứ theo số liệu thống kê thời đó, trong một ngày từ cửu môn (9 cửa của kinh thành Bắc Kinh) kéo ra hơn 20 vạn thi thể, một con số đáng sợ.

Cho nên khi Lý Tự Thành đến Bắc Kinh, quân đội triều Minh chỉ còn lại 5 vạn. Vốn dĩ là 20 vạn quân thủ thành, nhưng đã tử vong 15 vạn nên chỉ còn 5 vạn. Bắc Kinh có tổng cộng 15 vạn ụ thành, 5 vạn quan binh mỗi người bảo vệ 3 ụ thành thì căn bản không thủ được, sau đó binh sĩ vì bệnh và đói nên đứng dậy cũng không nổi. Do đó khi Lý Tự Thành đánh Bắc Kinh không gặp bất cứ kháng cự nào. 

Nhưng sau khi Lý Tự Thành tiến vào Bắc Kinh, thì quân đội của ông bắt đầu bị cảm nhiễm (trước đó không bị). Lý Tự Thành vừa mới nhập kinh một tháng thì quân Thanh nhập quan. 

Quân Thanh nhập quan bởi vì Lý Tự Thành đã đoạt ái phi Trần Viên Viên của Ngô Tam Quế. Thời ấy Ngô Tam Quế là Tổng binh của Sơn Hải Quan, ông để tang vua Sùng Trinh. Vốn dĩ Ngô Tam Quế muốn đầu hàng Lý Tự Thành, nhưng vì sự việc ái phi bị Lý Tự Thành đoạt, cho nên Ngô Tam Quế nhận sự giúp đỡ của Nhuệ Thân Vương Đa Nhĩ Cổn, quân Thanh và quân của Ngô Tam Quế hợp thành Quan Ninh thiết kỵ để tấn công Lý Tự Thành.

Lý Tự Thành đem binh ra đón đánh, nhưng thất bại phải quay lại kinh thành. Lý Tự Thành quyết định lên ngôi Hoàng đế, ngày hôm sau ông rời Bắc Kinh. Lý Tự Thành chiếm đóng Bắc Kinh được 42 ngày và làm Hoàng đế chưa đầy một buổi.

Khi đó quân Thanh khẩn trương tấn công vào Bắc Kinh. Nhưng lúc này chúng ta phát hiện một điều vô cùng kỳ lạ đó là: Trước khi Lý Tự Thành tấn công Bắc Kinh thì ôn dịch đang hoành hành, quân lính Lý Tự Thành cũng cảm nhiễm một ít, nhưng khi quân Thanh nhập quan một mạch truy kích Lý Tự Thành, thì quân Thanh không có ai cảm nhiễm. Quân Thanh không cảm nhiễm, đây là một hiện tượng vô cùng kỳ lạ.

Nhưng cũng có người giải thích rằng: bọ chét truyền nhiễm ôn dịch, mà bọ chét rất ghét mùi ngựa, trong khi quân Thanh là kỵ binh, cho nên bọ chét không cắn được quân Thanh. Nhưng Giáo sư Chương nhìn nhận, giải thích trên nói không được thông, bởi vì khi đó trong kinh thành triều Minh có khoảng 10 vạn con ngựa, do đó không thể nói rằng có ngựa thì dịch bệnh không hoành hành. 

Nhưng điều đặc biệt kỳ lạ ở đây là ôn dịch chỉ truy đuổi quân Minh, tấn công quân Minh lợi hại nhất, sau đó quân của Lý Tự Thành cảm nhiễm một ít, còn quân Thanh trên cơ bản không bị cảm nhiễm. Từ đó thấy rằng ôn dịch là thứ có tính định hướng.

Lễ Vượt qua: Ôn Thần tránh người Do Thái

‘Chỗ mê khó giải’ khiến nhiều người không tin, ở đây tin hay không là vấn đề của bạn, nhưng là người có tín ngưỡng chân chính, Giáo sư Chương chỉ muốn nói rằng: Ôn dịch là do Thần quản, người Trung Quốc cũng hay nói về ‘Ôn Thần’ (瘟神: Thần ôn dịch, Thần dịch bệnh). Thời gian, con đường truyền nhiễm, ai bị nhiễm, ai tử vong đều được an bài xong. Đến lúc Ôn Thần đi thì ôn dịch không còn nữa.

Đến đây Giáo sư Chương kể một câu chuyện trong Thánh Kinh. Trong Thánh Kinh có một sự kiện, khi đó Thiên Chúa Giê-hô-va muốn đưa người Do Thái vốn làm nô lệ ở Ai Cập đến vùng đất mới. Giê-hô-va nói với thủ lĩnh người Do Thái khi đó là Moses hãy đem người Do Thái đến vùng Canaan – vùng đất có sữa và mật ong. 

Lúc đó Moses nói với Pharaon nhưng Pharaon không đồng ý, thế là Thiên Chúa Giê-hô-va giáng tai hoạ xuống Ai Cập, trong đó có một loại là ôn dịch (dịch bệnh). Giê-hô-va lệnh cho Moses và Aaron cầm lấy tro ném lên trời trước mặt Pharaon, tro này sẽ biến thành bụi đất bay khắp Ai Cập, dính lên người và gia súc tạo thành nhọt. Sau đó ngay lập tức ôn dịch hoành hành. Đây là cách làm của Giê-hô-va. 

Pharaon cũng không muốn thả người Do Thái, cho nên Giê-hô-va đã đưa ra một quyết định, sự việc này trở thành Lễ Vượt qua của người Do Thái. 

Giê-hô-va nói: ‘Ta sẽ hành hại tất cả con đầu lòng của người Ai Cập, bất kể là người hay súc vật’. Lúc này Giê-hô-va đã giáng thiên tai thứ mười, cũng là tai hoạ cuối cùng, đây là lời cảnh tỉnh các Pharaon. Trước khi giáng tai hoạ, Giê-hô-va nói với Moses để thông tri cho người Do Thái rằng: ‘Nếu là người Do Thái, thì hãy dùng máu cừu vẽ ký hiệu trên cửa nhà’. Nếu Ôn Thần thấy ký hiệu sẽ nhảy vượt qua, ông sẽ không giáng tai hoạ vào gia đình có ký hiệu đó. 

Kết quả sự việc ấy thật sự phát sinh, nhà có ký hiệu trên cửa đều không bị sao cả, nhưng tất cả con đầu lòng của người, gia súc ở Ai Cập đều bị chết. Bởi vì Thiên sứ làm ôn dịch thấy ký hiệu sẽ không giáng tai nạn, mà ông sẽ ‘pass over’, tức bỏ qua nhà đó. Do đó sự việc này trở thành Lễ Vượt qua (Pass Over) của người Do Thái. Thời điểm Chúa Giê-su bị đưa lên thập tự giá là sau Lễ Vượt qua.

Giáo sư Chương kể câu chuyện này là muốn nói rằng: nếu thật sự tin có Thần, bạn sẽ biết rằng ôn dịch là do Thần quản. Rất nhiều sự việc bạn rất khó dùng logic của con người để giải thích rõ, giống như ở trước Giáo sư Chương giảng về câu chuyện ôn dịch chỉ tấn công binh sĩ triều Minh, hoặc Lý Tự Thành, chứ không tấn công quân Thanh.

Nhận rõ chính tà, tránh xa ĐCSTQ

Quay trở lại tình huống hiện nay, chúng ta biết rằng, ĐCSTQ từ khi đoạt chính quyền để tích không biết bao nhiêu nợ máu, chỉ riêng số người chết bất thường đã lên đến 80 triệu. Dưới tình huống này, ĐCSTQ đã làm việc xấu như thế, nhất định sẽ gặp báo ứng, loại báo ứng này có thể là xuất hiện dưới hình thức ôn dịch. 

Giống như Đế quốc La Mã cổ đại, họ bức hại tín đồ Cơ Đốc giáo 300 năm, mãi đến năm 312, Hoàng đế Constantinus ban bố Sắc lệnh Milan, coi Cơ Đốc giáo thành quốc giáo. Mãi đến đầu thế kỷ thứ tư mới dừng bức hại tín đồ Cơ Đốc giáo. Trong quá trình bức hại tín đồ Cơ Đốc giáo, Đế quốc La Mã trải qua 4 lần dịch bệnh khiến một nửa dân số ở La Mã tử vong. 

ĐCSTQ giảng ‘đấu Thiên, đấu Địa, đấu Nhân, thật vui sướng vô cùng’, nó dám đấu với Trời – Đất nhất định sẽ gặp báo ứng, đặc biệt nó còn bức hại người tu hành như Tạng Truyền Phật giáo, Cơ Đốc giáo, đặc biệt là đối với học viên Pháp Luân Công. 

Có người sẽ nghĩ ‘tôi không phải ĐCSTQ, tôi không đánh người mắng người, vì sao tôi gặp báo ứng?’. Trên thực tế đạo lý như thế này, khi ĐCSTQ bức hại Pháp Luân Công, những người bàng quan tuy không tham dự bức hại, nhưng bản thân việc ủng hộ ĐCSTQ chính là duy trì sự thống trị của nó, mà duy trì sự thống trị nên nó mới có thể bức hại Pháp Luân Công.

Khi ĐCSTQ đã làm những tội ác hạo thiên, tạo nên tội nghiệp vô biên, thì những người vẫn còn đứng bên cạnh ĐCSTQ đã dính nghiệp lực của ĐCSTQ, đây gọi là ‘cộng nghiệp’ (共業: nghiệp lực dính cùng). Cho nên trong Thánh Kinh, chúng ta thấy câu chuyện như thế này, khi Giê-su bị đóng đinh lên thập tự giá, sau đó đưa ra nơi hành hình, lúc đó có rất nhiều lão bách tính xem cảnh đó rất náo nhiệt, trong đó có một số phụ nữ khóc thương cho Giê-su. Khi đó Giê-su quay lại và nói với họ rằng: ‘Đàn ông phụ nữ Jerusalem đừng khóc vì ta, mà hãy khóc cho con cháu các người’.

Vì sao Giê-su nói đừng khóc cho ông? Bởi vì khi người Do Thái đã đóng đinh Chúa Giê-su lên thập tự giá, cho nên con cháu Do Thái sau này thật sự đã gặp đại hoạ giáng thân. Không lâu sau khi Chúa Giê-su bị đóng đinh lên thập tự giá, Jerusalem đã bị người Babylon xâm lược, sau đó người Do Thái lưu lạc khắp thiên hạ vạn quốc gần 2000 năm, không có có quốc gia, lãnh thổ, thậm chí bị đồ sát lượng lớn trong Thế chiến hai v.v.

Sự việc Giê-su bị đóng đinh lên thập tự giá, người Do Thái đã làm một việc vô cùng xấu. Tổng đô (總督: Tổng đốc) của La Mã bấy giờ là Philatô nói: ‘Giữa Giê-su và phạm nhân giết người, giữa hai người này, mọi người muốn giết ai?’. Người Do Thái hô lớn: ‘Muốn giết Giê-su’. Lúc đó Philatô rửa tay nói: ‘Giết người này, tội không phải ở tôi, các người hãy gánh chịu’. Sau đó những người Do Thái hét lên rằng: ‘Hãy đem máu của ông ấy quy lên thân con cháu chúng tôi’.

Những người Do Thái khi hét như vậy có thể cảm thấy vui sướng, nhưng cuối cùng đại hoạ giáng lên thân người Do Thái. 

Câu chuyện này có thể nhiều người không tin, nhưng Giáo sư Chương chỉ muốn nói rằng ở đây có quan hệ nhân quả như vậy.

Nhìn lại ĐCSTQ, sau hơn 70 giành được chính quyền, tội ác hạo thiên (tội ác ngợp Trời), đặc biệt là bức hại Pháp Luân Công, bức hại người tu luyện Phật Pháp là tội ác nghiêm trọng nhất. Nếu ai đứng bên ĐCSTQ nhất định sẽ xui xẻo. Do đó Giáo sư Chương khuyên rằng hãy tránh xa ĐCSTQ, tờ Epoch Times tiếng Trung có trang để giúp mọi người thoái xuất khỏi các tổ chức của ĐCSTQ. Những việc này không có hại gì, nhưng ít ra cũng cho thấy bạn không đứng về phía tà ác.

Mạn Vũ