Người xưa nói rằng “Văn dĩ tải đạo” – văn có thể dùng để chở đạo, do vậy mà trong hầu hết các tác phẩm kinh điển đều không rời xa chữ “Đạo” này…

Nhân sinh tại thế, đạo được thể hiện thông qua cảm ngộ về quá trình tu thân và coi trọng đức hạnh. Trong đạo bao hàm việc xem Thiên mệnh và đạo đức trong văn hóa truyền thống, trở thành kim chỉ nam cho tư tưởng con người.  

Một tác phẩm văn học xuất sắc thường có bố cục hết sức chặt chẽ, mở đầu lôi cuốn và kết thúc mang đầy ý vị sâu xa. Bài thơ mở đầu thường nói rõ chủ đề của tác phẩm, chỉ ra ý bài viết muốn truyền tải, đóng vai trò quan trọng đối với mỗi một kiệt tác. Dưới đây là ví dụ về những áng thơ – văn mở đầu trong bốn kiệt tác của văn học cổ điển:

1. Tam Quốc Diễn Nghĩa

Bài thơ mở đầu trong tác phẩm kinh điển “Tam Quốc Diễn Nghĩa” được viết như sau: 

Cổn cổn trường giang đông thệ thủy
Lãng hoa đào tẫn anh hùng
Thị phi thành bại chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng
Bạch phát ngư tiều giang chử thượng
Quán khán thu nguyệt xuân phong
Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng
Cổ kim đa thiểu sự, đô phó tiếu đàm trung…

Tạm dịch: 

Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng
Thị phi thành bại theo dòng nước
Sừng sững cơ đồ bỗng tay không
Núi xanh nguyên vẻ cũ
Bao độ ánh triều hồng
Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi
Vốn đã quen gió mát trăng trong
Một vò rượu nếp vui gặp gỡ
Chuyện đời tan trong chén rượu nồng

Bài thơ phần kết thúc chứa đầy ý vị sâu xa:

“Phân phân thế sự vô cùng tẫn; Thiên sổ mang mang bất khả đào”. Tạm dịch “Thế sự xoay vần vô cùng tận; Số trời mênh mang sao trốn được”.

Khái niệm “Diễn nghĩa” đã có từ xa xưa. Người xưa kể chuyện lịch sử cũng không đơn giản chỉ nói về lịch sử, mà còn thuật lại ý nghĩa của lịch sử, nhấn mạnh vào sự trình bày và cách lý giải của tư duy chính thống, chú trọng tính “diễn nghĩa”. Nội dung toàn bộ cuốn sách dùng để diễn giải nội hàm của chữ “Nghĩa”, tuyên dương trung hiếu tiết nghĩa, số mệnh và thiên lý, trị quốc bình thiên hạ, mưu lược và trí tuệ của cổ nhân. Mà nổi bật nhất là quan điểm mệnh Trời trong văn hóa truyền thống. Nội dung truyện cũng nhiều lần nói về “Thiên ý” chi phối con người tại nhân gian. Ví như “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Từ việc xem cát hung, ngôi sao sáng tối, những thay đổi của thiên văn là biểu hiện của Thiên ý. Mà ý Trời thì con người không thể cải biến, chỉ có thuận theo đó mà đi. 

Một hình minh họa cảnh Kết nghĩa vườn đào của bản Tam quốc diễn nghĩa được in vào thời nhà Minh năm 1591, thuộc bộ sưu tập của Đại học Bắc Kinh (ảnh: Wikipedia).

2. Hồng Lâu Mộng

Khúc mở đầu tác phẩm Hồng Lâu Mộng là bài “Duyện Khởi Thi”: 

Mãn chỉ hoang đường ngôn,
Nhất bả tân toan lệ!
Đô vân tác giả si,
Thuỳ giải kỳ trung vị?

Tạm dịch:

Đầy trang những chuyện hoang đường,
Tràn tít nước mắt bao nhường chua cay.
Đừng cho là giả là ngây,
Ai hay ý vị chỉ đầy ở trong?

Bài thơ trong phần kết thúc truyện như sau:

Thuyết đáo tân toan xử,
Hoang đường dũ khả bi. 
Do lai đồng nhất mộng, 
Hưu tiếu thế nhân si
.

Tạm dịch:

Nói đến chỗ chua xót
Hoang đường càng bi thương
Ngọn nguồn cùng một mộng
Chớ cười thế nhân si
.

Mọi thứ trong “Giấc mộng” đều là huyễn hoặc hư ảo. “Hồng lâu mộng” nghĩa là “Hồng trần mộng ảo”. Đầu mối dẫn khởi “Hồng lâu mộng” là từ một khối linh thạch, được Mang Mang đạo sĩ, Miểu Miểu chân nhân mang theo bên mình nơi hồng trần, lúc thì biến hòa thành người thân, sau lại dẫn dắt sang bờ bên kia. 

Cuốn sách “Điểu đầu lâm” có nói rằng: “Vạn sự vạn vật trên đời đều có nguyên do, nợ thì phải hoàn trả, đến cuối cùng thì bị hủy diệt”. Trong khúc “Hảo liễu ca”, Bả Túc đạo nhân có nói lên những biến hóa trong tình người ấm lạnh tại nhân gian. Chú giải của Chân Sĩ Ẩn lại càng nói rõ hơn rằng: vạn sự vạn vật tại nơi con người đều chỉ như mây khói, hơn nữa còn nhìn thấu nhận thức hoang đường của con người “coi tha hương là cố hương”. Phật gia nhận thức rằng hết thảy mọi thứ trong thế giới vật chất này đều là ảo giác, là không thật. Nó cho thấy con người đều có lai lịch không hề tầm thường, đều từ thiên thượng đến, có nguồn gốc rất xa xưa, nên đừng lạc mất phương hướng, loại bỏ si mê giấc mộng hồng lâu, tỉnh mộng rồi thì tâm gặp tính, bước trở về ngôi nhà thật sự của mình. 

Trang đầu bản gốc Hồng Lâu Mộng (ảnh: Wikipedia).

3. Thủy Hử truyện

Khởi đầu của “Thủy hử truyện” có đề thơ như sau:

Thí khán thư lâm ẩn sở, kỷ đa tuấn dật nho lưu.
Hư danh bạc lợi bất quan sầu, tài băng cập tiễn tuyết,
Đàm tiếu khán Ngô Câu.
Bình nghị tiền vương bính hậu đế, phân chân ngụy chiếm cứ Trung Châu,
Thất hùng nhiễu nhiễu loạn xuân thu.
Hưng vong như thúy liễu, thân thế loại hư châu.
Kiến thành danh vô số, đồ danh vô số, canh hữu na đào danh vô số.
Siếp thời tân nguyệt hạ trường xuyên, giang hồ biến tang điền cổ lộ.
Nhạ cầu ngư duyên mộc, nghĩ cùng viên trạch mộc,

Khủng thương cung viễn chi khúc mộc, khủng trương, bất như thả phúc chưởng trung bôi, tái thính thủ tân thanh khúc độ.

Dịch nghĩa:

Thử xem sách chỗ ẩn nấp nơi rừng núi, bao nhiêu anh tuấn thảnh thơi có chữ nghĩa bị đi đày.
Lo lắng chuyện hư danh ít lời lãi, xén băng cắt tuyết, cười nói xem Ngô Câu.
Bảy thế lực hùng mạnh cuồn cuộn loạn Xuân Thu.

Người thành danh cũng nhiều, hình mẫu vô số, người không lưu danh càng nhiều hơn. 
Tức thì trăng non hạ xuống sông dài, ruộng nương ở khắp nơi biến thành lối đi mòn.
Làm những việc không thiết thực, cuối đường chỉ mong có chốn dừng chân,
Cho dù có là nơi đâu đi chăng nữa cũng không còn bận tâm.
Chi bằng nâng ly rượu trên tay, nghe thêm vài khúc nhạc mới.

Bài thơ ở cuối truyện viết như sau:

“Thiên cang tận dĩ quy thiên giới, địa sát hoàn ứng nhập địa trung.
Thiên cổ vi thần giai miếu thực, vạn niên thanh sử bá anh hùng”.

Tạm dịch:

108 vị anh hùng như sao Thiên Cang và Địa Sát sớm muộn cũng tan biến về trời đất.
Lưu danh thiên cổ trở thành những vị Thần được lập đền miếu, vạn năm tiếng anh hùng vẫn được ca ngợi.

“Thủy hử” kể về những biến động hưng suy khi triều đại thay đổi. Hồng Thái Úy lỡ tay thả yêu tà, thả ra Thiên Cang và Địa Sát tinh quân đang chịu tội tại Phục Ma Điện. Cuối cùng họ đã lần lượt đầu thai xuống nhân gian và trở thành những nhân vật xuất chúng. Đây chính là lai lịch của 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc. Trong ân ân oán oán mà lộ ra ý chí không tự chủ được của mỗi cá nhân trong số họ. Thế nhưng, thị phi trên đời ai định ra? Hưng suy của mỗi triều đại hẳn là không có bằng chứng sao? 

Cường đạo trong “Thủy Hử truyện” cũng thừa nhận Thiên đạo, làm việc gì cũng đặt chữ “Nghĩa” lên hàng đầu. Nhưng trong con mắt của mọi người, những kẻ vào rừng làm cướp đều bị coi là giặc. Trong cuộc sống, nếu như mỗi lời nói hành vi của một người đều phù hợp với quy phạm đạo đức làm người, làm được những điều lớn lao thì họ sẽ được gọi là anh hùng. Đây chính là văn hóa cường đạo (Thổ phỉ cũng có đạo). Điều này cho thấy: con người dù ở trong hoàn cảnh nào cũng phải tuân theo đạo đức làm người. Người thay Trời hành đạo, trừng phạt kẻ gian tham, bảo vệ người dân, họ cũng nhận được sự trợ giúp của Thần. Bởi vậy mới có câu “thiện ác hữu báo”, “gieo gió gặt bão”. 

4. Tây Du Ký

Bìa bản Tây du ký chữ Hán thế kỷ XVI (ảnh: Wikipedia).

Phần mở đầu của kiệt tác “Tây Du Ký” có đề thơ như sau:

Hỗn độn vị phân thiên địa loạn,
Mang mang miểu miểu vô nhân kiến. 
Tự tòng bàn cổ phá hồng mông,
Khai ích tòng tư thanh trọc biện.
Phúc tái quần sinh ngưỡng chí nhân, 
Phát minh vạn vật giai thành thiện. 
Dục tri tạo hóa hội nguyên công, 
Tu khán tây du thích ách truyện.

Tạm dịch:

Thuở hoang sơ đất trời chưa tỏ,
Chốn mênh mông nào có bóng người.
Từ khi Bàn Cổ ra đời, 
Đục trong phân biệt, khác thời hỗn mang. 
Che chở khắp nhờ ơn trời đất, 
Phát minh ra muôn vật tốt thay. 
Muốn xem tạo hóa công dày, 
Tây Du truyện ấy đọc ngay đi nào.


Phần kết thúc truyện “Tây Du Ký” có thơ đề rằng:

Thánh tăng nỗ lực thủ kinh biên,
Tây vũ chu lưu thập tứ niên. 
Khổ lịch trình đồ tao hoạn nan, 
Đa kinh sơn thủy thụ truân chiên.
Công hoàn bát cửu hoàn gia cửu,
Hành mãn tam thiên cập đại thiên.
Đại giác diệu văn hồi thượng quốc,
Chí kim đông thổ vĩnh lưu truyện.

Tạm dịch:

Thánh tăng gắng sức lấy kinh,
Ruổi rong mười bốn năm ròng trời Tây.
Gian lao vất vả đêm ngày,
Trèo đèo lội suối đắng cay muôn phần.
Hoàn thành công quả vô vàn.
Ba nghìn viên mãn đủ vòng đại thiên.
Chân kinh về tới Đại Đường,
Từ nay mãi mãi lưu truyền cõi Đông.

Lại có thơ viết:

Nguyện dĩ thử công đức, 
Trang nghiêm Phật tịnh thổ. 
Thượng báo tứ trọng ân,
Hạ tể tam đồ khổ.
Nhược hữu kiến văn giả, 
Tất phát bồ đề tâm. 
Đồng sinh cực nhạc quốc, 
Tẫn báo thử nhất thân

Tạm dịch: 

Nguyện đem thửa công đức, 
Đất Phật tổ trang nghiêm. 
Trên báo bốn trọng ơn, 
Dưới cứu ba đường khổ. 
Những kẻ kiến văn tỏ,
Ắt phát tâm Bồ Đề. 
Cõi Cực Lạc theo về, 
Thân này được tận báo.

“Tây Du Ký” là một bộ sách giác ngộ, kể về câu chuyện của bốn thầy trò Đường Tăng đi Tây Thiên bái Phật thỉnh kinh truyền về Đông Thổ. Đường Tăng là một nhà sư từ bi, thân mang đầy chính khí, lập chí bái Phật cầu Kinh dùng phổ độ chúng sinh. Ông cũng là người có ý chí kiên định, kiên trì và bền bỉ. Tôn Ngộ Không là nhân vật chính bảo vệ Đường Tăng, trước sau như một, diệt trừ cái ác, dương cao cái thiện, tận lực cứu người. Niềm tin mãnh liệt vào Phật Pháp của thầy trò Đường Tăng đã truyền cảm hứng cho thế nhân. Cho dù họ đã trải qua chín chín tám mươi mốt khổ nạn nhưng cuối cùng cũng lấy được chân kinh, tu thành chính quả, đắc được quả vị Phật. Câu chuyện của họ khiến con người thế gian nhận ra rằng: chỉ có hướng thiện mới là con đường đúng đắn cho kiếp nhân sinh. 

“Tây Du Ký” thể hiện ra quá trình siêu việt của con người. Đồng thời đây cũng là tác phẩm duy nhất trong Tứ đại danh tác có kết thúc thành công viên mãn. 

Theo Vision Times
San San biên dịch

Tin liên quan:

videoinfo__video3.dkn.tv||b4a369d49__

Ad will display in 09 seconds