Khổng Tử cho rằng người hiểu được ‘Nghĩa’ và ‘Thiên mệnh’ mới là người quân tử thật sự, bởi vì họ làm việc xuất phát từ đạo đức, đối với kết quả hầu như không suy nghĩ quẩn quanh…

Nghĩa (義) là gì? Trong bài viết “Cùng là ‘chiến đấu’: Người Hồng Kông vì đại nghĩa, người Việt vì cái gì?”, từ bề mặt chữ Nghĩa, tác giả Thuần Dương đã giải thích như sau: 

Chữ Nghĩa – 義 được ghép từ chữ Ngã – 我(tôi) và chữ Dương – 羊 (con cừu/dê). Trong đó dê vốn là vật hiến tế Thần trong văn hóa cổ xưa, ý nói tới sự hy sinh, được đặt trên chữ Ngã. Chữ Ngã – 我 gồm Thủ – 手 (cái tay) và Qua – 戈 (một loại vũ khí), ý nói nếu chỉ nghĩ tới bản thân, thì có nghĩa là ta đang cầm vũ khí chống lại người khác. Chữ Dương đặt trên chữ Ngã hàm ý là đặt lợi ích của người khác lên trên bản thân mình, đó chính là Nghĩa 義.

Tác giả Thuần Dương nhìn nhận chữ Nghĩa như vậy. Còn chữ Nghĩa mà Khổng Tử giảng được hiểu như thế nào?

Nghĩa: sự việc nên làm

Trong từ điển Thiều Chửu, ‘Nghĩa’ được giải thích là ‘nên’, chính là ‘một sự việc nên làm’. Vậy một sự việc nên hay không nên làm thì dựa vào điều gì để phân định? 

Về phương diện này, giữa quân tử và tiểu nhân là có sự phân biệt. Trong ‘Luận ngữ – Lý nhân’, Khổng Tử nói: Quân tử hiểu rõ nghĩa, tiểu nhân hiểu rõ lợi. Quân tử dựa vào đạo đức để xem sự việc nên hay không nên làm, còn tiểu nhân dựa vào lợi ích để phán đoán sự việc có nên làm hay không. Đây là phân biệt giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân.

Trong ‘Truyện Lục Vân Tiên’ cụ Nguyễn Đình Chiểu có viết 2 câu thơ như sau: 

Nhớ câu kiến Nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.

Ở đây người viết cho rằng, cụ Chiểu phải am hiểu lắm về Khổng Tử mới viết được câu như thế này. Từ bề mặt chữ, hai câu thơ lục bát trên có nghĩa là: nếu thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải ‘anh hùng’.

‘Anh hùng’ theo ý hiểu của người viết chính là người ‘quân tử’, tức là người có đạo đức. Cụ Chiểu dùng ‘phủ định của phủ định’ (‘bất vi’, ‘phi anh hùng’) chính là là ‘khẳng định’. 

Vậy nên hai câu thơ trên dịch thuận là: Người quân tử (anh hùng) nên làm việc nghĩa. Điều này khớp với giải thích chữ Nghĩa ở trên (Nghĩa: sự việc nên làm).

Ảnh ghép minh họa.

Văn Thiên Tường: Cha mẹ bệnh nặng, chẳng lẽ con cái buông tay? 

Thời Nam Tống (1127 – 1279), thiết kỵ Mông Cổ  tấn công Lâm An ở phía Nam. Khi đó triều đình nhà Tống ra chiếu ‘Cần vương’ (勤王: giúp vua). Sau khi Văn Thiên Tường nhận được chiếu, ông thường sa nước mắt. Tại sao? Ông vốn là thư sinh – người đọc sách, làm sao có thể chống lại đội quân hùng mạnh đến từ phương bắc đây?

Khi ấy có người bạn khuyên ông nói rằng: “Đại quân Mông Cổ chia làm 3 đạo nam tiến, khí thế như chẻ tre, trong khi ông chỉ có 1 vạn quân. Nếu chiến đấu khác nào một miếng thịt ngon trước miệng hổ đói!” (1)

Văn Thiên Tường đáp rằng: “Tôi biết điều này. Nhưng nước nhà nuôi dưỡng thần – dân hơn 300 năm, nếu triều đình ra chiếu Cần Vương mà không ai hưởng ứng, mọi người đều nói ‘nếu đi thì có tác dụng gì đâu’ thì không ai đi, như thế chẳng đáng buồn lắm sao? Cho nên tôi sẽ dẫn đầu, không màng an nguy. Nếu tôi chết mà có thể khiến ‘trung thần nghĩa sĩ’ nghe được, như thế họ sẽ theo đó mà học tập, giang sơn xã tắc mới có thể giữ được”. (2)

Kết quả Văn Thiên Tường không tránh khỏi thất bại. Vó ngựa Mông Cổ quét sạch cả lục địa Á – Âu, một thư sinh chỉ cầm 1 vạn quân làm sao chống nổi.

Văn Thiên Tường bị bắt làm tù binh. Tể tướng Bột La hỏi ông rằng: tại sao biết không thể chống mà vẫn làm. Văn Thiên Tường đáp: “Tôi chỉ muốn làm hết trách nhiệm của đại thần mà thôi. Giống như cha mẹ lâm bệnh, biết rõ mắc bệnh nan y, uống thuốc không khỏi, nhưng con cái lẽ nào không sắc thuốc cho cha mẹ uống?” (3). 

Như Văn Thiên Tường nói, việc hiếu kính cha mẹ là việc có đạo đức, là nên làm. Đâu thể vì cha mẹ lâm trọng bệnh mà con cái đứng làm ngơ. Cho nên hễ là việc ‘phải đạo’ thì ‘nên làm’. Đây là thể hiện của chữ Nghĩa. 

Nếu theo cách nghĩ thông thường, cái chết của Văn Thiên Tường đối với bản thân ông cũng như đối với nhà Tống không có ý nghĩa gì, bởi ông không thể níu giữ vương triều. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, cái chết của ông có ý nghĩa đối với dân tộc Trung Hoa. 

Giáo sư Chương Thiên Lượng khi đọc về Văn Thiên Tường đã cảm khái nói rằng: “Cái chết của ông (Văn Thiên Tường) lưu lại một giá trị tinh thần. Ông để cho chúng ta biết thế nào là Trung, thế nào là ‘hạo nhiên chính khí’ (chính khí ngút trời). Đây là một loại ‘sức mạnh đạo đức’, lưu lại bảo vật tinh thần cho dân tộc chúng ta” (Trích từ loạt bài ‘Trung Hoa văn minh sử’ tập 30).

Văn Thiên Tường sinh năm 1236, mất năm 1283. Ông nổi tiếng với 2 câu thơ đã trở thành bất hủ:

Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

(Đời người xưa nay ai chẳng chết
Lưu lại lòng son chiếu sử xanh)

Văn Thiên Tường – tranh vẽ vào thời nhà Thanh (ảnh: Wikipedia).

Trải qua gần 800 năm sau, ‘hạo nhiên chính khí’, ‘tấm lòng son sắt’ ấy một lần nữa tái hiện ở nhân gian. Nhưng đây không phải là tấm gương của một cá nhân, mà là một nhóm người có đức tin chân chính…

Phản kháng ôn hoà của học viên Pháp Luân Công

“Giống như các học viên Pháp Luân Đại Pháp [Pháp Luân Công] phản kháng bạo chính (chính trị bạo ngược). Xem ra Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vô cùng lớn mạnh, còn các học viên Pháp Luân Công có trong tay những gì? Khi phản kháng thì khả năng thắng được bao nhiêu? Rất nhiều người suy nghĩ trên góc độ này ‘thôi bỏ đi, đừng dây dưa với ĐCSTQ làm gì, chỉ cần mình tự biết là được rồi, đừng kiên trì nữa’. Nếu như thế thì họ không lý giải được đạo lý và ý nghĩa của chữ “Nghĩa” trong văn hóa truyền thống.

Cách nhìn của Nho gia đối với Nghĩa (義) chính là: Dù tôi làm có thành công hay không, nhưng tôi không cho phép bạn (ĐCSTQ) làm những việc vi phạm nhân quyền, hoặc là tôi không cho phép bạn bôi nhọ Phật Pháp. Dù thành công hay không, tôi đều phải làm điều ấy. Bởi vì, về đạo đức thì điều này (vạch trần bản chất tà ác của ĐCSTQ) là đúng. Đây chính là Nghĩa” (Trích từ loạt bài ‘Trung Hoa văn minh sử’ tập 30).

‘Nghĩa’ trong Nho gia chính là: một sự việc nếu phù hợp với đạo đức thì nên dốc toàn lực làm. Nếu như một người đã dốc toàn lực làm mà sự việc vẫn không thành, lúc này Khổng Tử cho rằng tình huống ấy thuộc về ‘Thiên mệnh’ (mệnh Trời), cũng chính là ý Trời. 

‘Nghĩa’ là việc nên làm, còn kết quả phụ thuộc vào ‘Thiên mệnh’, cho nên ‘Nghĩa’ và ‘Tri Thiên mệnh’ là một cặp mệnh đề đi cùng nhau.

Tri Thiên mệnh

Một đời Khổng Tử thực hành tư tưởng ‘nhân’, ‘nghĩa’, ‘tri Thiên mệnh’… Ông sống trong một thời kỳ mà xã hội và chính trị có quá nhiều biến động, lễ băng nhạc hoại. 

Khổng Tử chu du liệt quốc, gặp người ông đều nói ông hy vọng quân thần phụ tử có thể sống cuộc đời có đạo đức, nhưng không có mấy người chấp nhận chủ trương của ông. Dù gặp nhiều trở ngại, chịu rất nhiều khổ cực nhưng ông không hề hối hận, bởi vì ông làm sự việc này xuất phát từ ‘Nghĩa’, là ‘làm những việc nên làm’. 

Trong ‘Luận ngữ – Vi tử’ có câu nói minh chứng rằng Khổng Tử đã biết kết quả sự việc này: “Quân tử muốn ra ngoài làm quan là vì muốn thực hành lý tưởng, nhưng đạo đức đã không được nữa rồi, và ta đã biết được việc đó”. 

Khổng Tử ôm giữ tâm thái như vậy, dù ông biết làm sẽ không thành nhưng ông vẫn tận sức. Quan niệm ‘Thiên mệnh’ được giảng ở đây chính là chỉ Thiên ý, hoặc là quy luật vũ trụ, hoặc là an bài của Thần… Đó là việc vượt ngoài tầm kiểm soát của Khổng Tử.

Có thể ta cho rằng việc tin vào Thiên mệnh sẽ khiến người ta trở nên tiêu cực, nhưng qua giải thích của Khổng Tử về ‘Nghĩa’ và ‘Thiên mệnh’ ta mới thấy rằng: Tin vào Thiên mệnh không làm con người tiêu cực, trái lại còn khiến người ta cởi mở và thông suốt. Bởi trong suy nghĩ của Khổng Tử không nói là làm thành công hay không, chỉ cần tận sức mà làm thì sẽ không hối hận điều gì. Người làm được như vậy vĩnh viễn không có ưu lo, bởi họ làm không phải vì kết quả.

Khổng Tử cho rằng người hiểu được ‘Nghĩa’ và ‘Thiên mệnh’ mới là người quân tử thật sự, bởi vì họ làm việc xuất phát từ đạo đức, đối với kết quả hầu như không suy nghĩ quẩn quanh. Vậy nên Khổng Tử mới nói 2 câu rằng: “Quân tử hiểu rõ nghĩa” và “Không hiểu Thiên mệnh, không tính là người quân tử”. 
(Còn tiếp…)

>> Trọn bộ Nho gia mạn đàm

Mạn Vũ

Chú thích: 
(1) (2) (3): Trích ‘Tống sử’.
(*) Tựa đề bài viết nguyên trích từ hai câu thơ trong “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu.