Năm Hồng Vũ thứ 31 (năm 1398), Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương băng hà, hưởng thọ 71 tuổi. Trưởng tôn Chu Duẫn Văn kế vị, trở thành Kiến Văn Đế. Ông là con trai thứ hai của Thái tử Ý Văn, vốn mang tư chất thông minh, ham học hỏi, vô cùng hiếu thảo lại thêm bản tính nhân từ. Chỉ có điều, theo như “Biên niên sử nhà Minh” nhận định thì Kiến Văn Đế là người “nhân hậu, ôn nhu nhưng thiếu quyết đoán”, có lẽ do chịu ảnh hưởng từ phụ thân, ông mang phong thái thư sinh thuần chất, tao nhã ôn tồn, nhân ái nhưng thiếu một chút tự tin cũng như tồn tại những mặt hạn chế về năng lực, kinh nghiệm xử lý chính sự, điều hành quốc gia, bên cạnh đó, nếu đánh giá trên phương diện tài năng hay trí tuệ, Chu Duẫn Văn cũng không thể so bì với Chu Đệ.

Trong một dịp mọi người thưởng tửu ngâm thơ trong cung điện, Chu Nguyên Chương đưa ra vế đối đầu tiên: “Gió thổi đan ngàn sợi mã vĩ (lông đuôi ngựa)”. Chu Duẫn Văn vốn không có kinh nghiệm bôn ba chinh chiến, tầm nhìn hạn hẹp chỉ xoay quanh những sự việc hết sức bình phàm, đơn thuần vụn vặt, liền đối lại rằng “Mưa rơi tựa tấm nỉ lông dê”, nhẹ dạ yếu nhược, hoàn toàn không có ý vị. Trái ngược lại, Chu Đệ vốn chín chắn từng tiếp xúc qua nhiều phương diện xã hội, đã khéo léo đưa ra vế đối như sau “Ánh mặt trời chiếu rọi long lân (vảy rồng) vạn đốm vàng kim”, từng câu từng chữ toát lên khí phách hùng tráng vĩ đại, Chu Nguyên Chương nghe xong vô cùng hài lòng, cao hứng. Có lẽ vì vậy mà trong những năm trị vì, Minh Thái Tổ từng có ý định thay đổi người kế vị, muốn phong Yến Vương Chu Đệ làm Thái tử, tuy nhiên một số đại thần đã nhắc nhở ông rằng nếu như có sự thay đổi như vậy, thì những huynh đệ thân vương lớn hơn Chu Đệ như Tần Mẫn vương Chu Sảng và Tấn Cung vương Chu Cương sẽ ra sao? Vì vậy, Chu Nguyên Chương đành bỏ qua ý định này.

Chiểu theo di chiếu của Minh Thái Tổ không cho phép phiên vương trở về chịu tang, Kiến Văn Đế thuận lợi đăng cơ kế vị, còn Yến Vương lại gặp không ít trắc trở trên đường vào thành hộ tang. Chu Nguyên Chương được hạ táng sau bảy ngày qua đời. Theo thông lệ, hoàng đế khi băng hà, thi hài sẽ được lưu trong linh cữu tại nội cung ít nhất gần một tháng, giai đoạn này được gọi là “Hoàng đế đại hành”, trong thời kỳ lưu cữu sẽ cử hành các nghi thức tang lễ, hậu duệ tôn tử vương gia, thành viên hoàng thất, bách quan quân dân nghiêm túc mặc tang phục trong suốt 27 ngày, tạm dừng mọi hoạt động văn nghệ, lễ hội, hỉ sự. Tuy nhiên Kiến Văn Đế đã không tuân thủ quy tắc lễ nghi truyền thống này, hành vi đối nghịch với nhân luân đạo lý như vậy, khiến Yến vương vô cùng bất mãn. 

Đồng thời vào lúc này, vì lo sợ lực lượng quân binh của các chư vị thúc thúc bao vây ngoài thành sẽ uy hiếp, đe dọa đến hoàng vị của mình, Kiến Văn Đế cùng đại thần Tề Thái và Hoàng Tử Trừng đã tiến hành thương thảo bàn bạc lên kế hoạch diệt phiên. Một số quan đại thần kiến nghị không nên vội vàng xóa bỏ chế độ phân quyền cho các phiên vương mà nên tiến hành cắt giảm dần các mệnh lệnh ân sủng, từng bước làm suy yếu thế lực của các phiên vương. Phương thức sau rõ ràng càng mang đến những lợi ích to lớn hơn trong việc củng cố vững chắc quyền lực, tuy nhiên bên ngoài tỏ vẻ tán thành đồng thuận, song đến cuối cùng Kiến Văn Đế vẫn thu nạp ý kiến của Hoàng Tử Trừng, bước đầu tiếp cận triệt hạ một số vị thân vương có lực lượng yếu nhược, sau đó tiếp tục chĩa mũi nhọn hướng về thế lực lớn mạnh nhất của Yến vương Chu Đệ.

Không lâu sau, Kiến Văn Đế hạ lệnh bắt Chu vương cùng các phi tần đến kinh đô, giáng chức làm thường dân rồi chuyển đến Vân Nam. Tiếp theo đó, Mẫn Vương, Tề Vương, Đại Vương cũng lần lượt bị phế ngôi vị và bị giam cầm. Tương Vương cũng vì chịu sự bức ép mà buộc phải tự thiêu. Không những vậy, Kiến Văn Đế còn hạ chỉ không cho phép các thân vương được quyền chỉ huy, quản hạt văn võ tướng sĩ quan lại, đồng thời ban hành sắc lệnh thay đổi thể chế bộ máy nhà nước.

Chỉ trong vòng một năm, lần lượt năm vị phiên vương có tầm ảnh hưởng quan trọng đã bị phế truất, mục tiêu kế tiếp của Kiến Văn Đế minh xác hướng về Yến Vương – vị phiên vương nắm trong tay thế lực lớn mạnh nhất. Yến Vương cũng phần nào cảm nhận được tình thế hiểm nguy bất trắc mà bản thân phải đối mặt.

Theo như ghi chép “Lịch sử nhà Minh • Ngũ hành chí”, trong khoảng thời gian Kiến Văn Đế tiến hành diệt phiên, từng có một vị đạo sĩ điên rong ruổi trên đường hát lớn rằng: “Đừng xua đuổi chim én, càng rượt đuổi chim én càng bay cao, bay đến chốn kinh kỳ vương đế!”. Phải đến khi những sự việc tiếp sau đó xảy ra, cuối cùng mọi người mới minh bạch được hàm ý trong đó, chính là lời cảnh báo chớ nên bức ép Yến Vương, nếu không Yến Vương buộc phải bứt phá lên vị trí cao hơn, cuối cùng đăng cơ hoàng đế.

Yến Vương bị bức ép buộc phải khởi binh

Sau chuyến đi Nam Kinh trình diện Kiến Văn Đế vào tháng 2 năm 1399, tháng 3 Yến Vương trở về Bắc Bình, kể từ đó cáo bệnh không ra khỏi phủ. Lúc này, Kiến Văn Đế đã điều động ba vạn binh mã bố trí mai phục trên khắp các địa phương phụ cận Bắc Bình nhằm quan sát theo dõi từng động thái của Yến Vương, ngăn chặn Yến Vương phát động binh biến. Đến tháng 4, vào dịp lễ giỗ đầu của Minh Thái Tổ, Yến Vương phái ba người con trai của mình vào kinh thành. Một số thủ hạ thấy vậy bèn đề xuất ý kiến không nên để ba người cùng đi, tuy nhiên Yến Vương lại cho rằng nếu làm như vậy thì triều đình sẽ không còn hoài nghi gì nữa.

Sau khi ba người con trai của Yến Vương vào thành, nội bộ giữa các quan đại thần của Kiến Văn Đế cũng nảy sinh những bất đồng ý kiến xoay quanh vấn đề có nên tạm giam giữ họ hay không, Hoàng Tử Trừng nhận định trước mắt sẽ không đối đầu với Yến Vương, tốt hơn hết vẫn nên để họ trở về. Phải đến khi nhìn thấy ba nhi tử của mình bình an vô sự đặt chân đến lãnh địa đất phong, Yến Vương mới thở phào nhẹ nhõm.

Không lâu sau, một  hộ vệ của Yến Vương đã trình tấu lên Kiến Văn Đế về việc hai sĩ quan cấp tá kề cận Yến Vương đang lén lút thực hiện những hành vi không minh bạch, Kiến Văn Đế lập tức hạ chỉ bắt hai người đó về kinh xử trảm, đồng thời xuống chiếu thư khiển trách Yến Vương. Yến Vương không thể không tiếp tục cáo bệnh, thậm chí còn phải giả điên, “vừa chạy vừa hô hét lớn trong thành, cướp lấy thức ăn và rượu, phát ngôn nhiều lời cuồng loạn, hoặc nằm dài trên đất, suốt cả ngày không tỉnh”.

Kiến Văn Đế phái người đến phủ ân cần thăm hỏi, chứng kiến Yến Vương ngồi bên bếp lửa giữa mùa hè nóng nực, lại luôn miệng nói “rét quá”, thậm chí còn phải chống gậy để di chuyển trong khuôn viên phủ đệ. Kiến Văn Đế thấy vậy cũng dần nảy sinh một chút niềm tin về việc Yến Vương vô tâm phản kháng.

Yến Vương vốn dĩ tưởng rằng có thể dựa vào bộ dạng cáo bệnh giả điên mà tránh được một kiếp, nhưng không thể ngờ, rất nhanh sau đó, Kiến Văn Đế đã chỉ thị cho bộ hạ cũ của Yến Vương – Đô Chỉ Huy Sứ Bắc Bình Trương Tín nhận lệnh bắt giữ Yến Vương.

Trương Tín nhận được mệnh lệnh, vô cùng âu lo phiền não. Mẫu thân thấy dáng vẻ bất thường của con trai như vậy, liền hỏi nguyên do, Trương Tín thuật lại tường tận nút thắt trong lòng. Sau khi hiểu rõ nội tình Trương mẫu có phần kinh hãi, nói với con trai rằng không thể thực hiện mệnh lệnh này, “Ta từng nghe đến thanh thế nắm trong tay thiên hạ của Yến Vương. Bậc vương giả bất tử, việc bắt giữ này hoàn toàn nằm ngoài khả năng của con”. Trương Tín do dự không thể đưa ra quyết định.

Lúc này sứ giả lại đến hối thúc, Trương Tín vô cùng bất mãn trước sự bức bách dồn ép một cách nôn nóng như vậy, liền tức tốc đến phủ bái kiến Yến Vương, để bẩm báo chi tiết tỉ mỉ sự tình. Sau ba lần liên tiếp cầu kiến, Yến Vương mới đồng ý gặp mặt anh ta.

Sau khi biết sự tình, Yến Vương vô cùng kinh ngạc, lập tức triệu mời Đạo Diễn cùng một số thuộc hạ thân tín tiến hành bàn bạc tìm kiếm đối sách. Đúng lúc đó trời nổi lên một cơn giông bão, mái ngói trên nóc vương phủ rơi xuống, Yến Vương tưởng đây là điềm báo chuyện chẳng lành, sắc mặt hiển lộ vẻ không vui. Đạo Diễn lại cho rằng đó là điềm báo may mắn cát lợi, “Long bay trên trời, nổi trận phong ba. Ngói đổ, thiên định hoán đổi tấm ngói vàng vương thất”. Vốn dĩ, chế độ nhà Minh quy định, trong vương phủ chỉ cho dùng ngói lưu ly màu xanh, tại hoàng cung mới được phép dùng ngói lưu ly màu vàng. Nói “thay ngói vàng”, ngụ ý chính là trở thành hoàng đế. Điều này hiển nhiên là một điềm báo tốt lành, nét mặt Yến vương lúc bấy giờ mới biểu hiện một chút hỉ sắc.

Yến vương tiến hành bắt giữ và xử trảm hai tướng lĩnh nhận lệnh đến phủ truy bắt ông, đồng thời chiếm giữ Bắc Bình, ông còn viết hai bức thư gửi đến Kiến Văn Đế, bày tỏ sự bất mãn của mình trước chính sách bức bách dồn ép phiên vương, cũng như tuyên bố sẽ thuận theo lời giáo huấn của Vương Tổ, “thanh trừ bè phái bên cạnh quân vương” như Chu Tề Thái, Hoàng Tử Trừng, vì uy danh đất nước mà thực hiện chiến dịch “Tĩnh Nan”, phát lời tuyên thệ khởi binh. Đồng thời, ông cũng phủ nhận hoàn toàn niên hiệu của Kiến Văn Đế, vẫn lấy danh nghĩa năm Hồng Vũ thứ 32.

Chiến dịch Tĩnh Nan

“Chiến dịch Tĩnh Nan” của Yến Vương kể từ lúc khởi binh đến khi giành được thắng lợi cuối cùng đã lưu lại dấu mốc 4 năm vàng son trong dòng chảy lịch sử. Xuyên suốt quá trình này, Đạo Diễn đứng trên cương vị một cố vấn quân sự có vai trò vô cùng trọng yếu, Yến Vương luôn cùng ông bàn bạc, tham vấn ý kiến trong mỗi trận đấu hoặc sau khi kết thúc chiến dịch. Vào thời gian đầu khởi binh, thuộc hạ của Yến Vương chủ yếu là những kỵ binh Mông Cổ bị thu phục, hoặc là những người nông dân, vv…, vì vậy việc áp dụng phương cách nào để nung nấu, bồi dưỡng chí khí, sức chiến đấu của quân sĩ đã trở thành một vấn đề nan giải mà Chu Đệ phải đối mặt. Ông ra lệnh chiểu theo “5 thể chế quân sự” tiến hành chỉnh đốn tổ chức lại biên chế, bổ nhiệm phân quyền chỉ huy cho tướng lĩnh Trương Ngọc Đẳng. Chính những biện pháp nỗ lực này đã tạo lên một thể thống nhất từ chỉnh hợp 10 vạn quân sĩ, giàu kỹ năng thuần thục phối hợp giữa tấn công và phòng thủ cũng như có năng lực chiến đấu phi thường mạnh mẽ.

Mặc dù khi so sánh với quân đội triều đình, xét trên phương diện binh lực Yến Vương hoàn toàn không chiếm ưu thế, ngoại vùng đất phong Bắc Kinh ông không có quyền kiểm soát tại bất kỳ một địa phương nào khác, trong khi đó Kiến Văn Đế lại sở hữu một đội quân thường trực đông đảo với số lượng gấp nhiều lần binh lực của Yến Vương, thêm nữa còn sở hữu nguồn hỗ trợ kinh tế dồi dào trên cả nước, vv. Tuy nhiên thuận theo tiến trình thúc đẩy chiến tranh, tài năng lãnh đạo quân sự trác tuyệt của Yến Vương cũng như tố chất kỹ năng điêu luyện của đội ngũ tướng sĩ cũng dần được hiển lộ và phát huy. Ngoài những chư tướng phương bắc quy hàng Yến Vương trong giai đoạn đầu, Chu Đệ còn tiếp tục thu phục thêm đội kỵ binh mang sức chiến đấu kiên cường mạnh mẽ của Ninh Vương, hết thảy những yếu tố này đã khiến lực lượng quân đội Kiên Văn Đế dưới sự chỉ huy của Lý Cảnh Long liên tiếp gặp thất bại, đành rút lui tháo chạy, trong đó không ít tướng lĩnh cúi đầu quy thuận Yến Vương.

Dưới đây là hai câu chuyện lạ về sự kiện trợ giúp Yến vương. Một là, dân gian tương truyền rằng: Vào tháng 7 năm 1399, Yến Vương dẫn binh ra khỏi Bắc Bình, vừa đặt chân đến vùng đồng bằng phía đông (nay là thị trấn thuộc quyền quản lý của quận Triều Dương, Bắc Kinh) lập tức gặp phải sự ngăn trở của lực lượng quân đội do Kiến Văn Đế phái tới, hai bên giao tranh kịch liệt. Nơi đây có địa thế phía sau tựa vào núi non trùng điệp, phía trước mặt là Bình Lục, nước bắt nguồn từ núi chảy ra sông thông tới biển. Trong khi giao chiến, Chu Đệ cưỡi trên lưng một chú ngựa hoa màu xanh, bị quân địch truy sát đến bên bờ một con kênh. Trong chớp mắt liền có thể mất mạng, dưới tình thế nguy cấp ngàn cân treo sợi tóc Yến Vương hỏi tọa kỵ (chiến mã)”: “Anh có thể vượt qua bờ kênh này giúp tôi thoát khỏi vòng vây được không?” vừa dứt lời dây cương liên tục rung lên, chiến mã mang trên lưng Chu Đệ thoáng chốc sải bước băng qua ba con kênh, chặt đứt vòng bao vây của truy binh, biến nguy thành an. Chu Đệ sau này lên ngôi hoàng đế đã hạ lệnh xây dựng miếu Mã thần tại đây.

Truyền thuyết thứ hai lưu lại câu chuyện diễn ra vào tháng 11 năm 1399, nhân lúc Chu Đệ điều động quân đội di chuyển đến Đại Ninh (nay thuộc huyện Lâm Phần, Sơn Tây), đại tướng Lý Cảnh Long phụng lệnh Kiến Văn Đế thừa cơ tấn công Bắc Bình, nhưng con trai trưởng của Chu Đệ – Chu Cao Sí lập tức vận dụng phương pháp đóng băng tường thành để kịp thời ứng phó khiến quân đội triều đình không cách nào công phá được thành lũy. Vì vậy, đành phải đóng doanh trại quân đội ở Hà Tây, còn bộ phận tiên phong của Trần Huy thì trú tại Hà Đông. Sau khi nghe tin, Yến Vương dẫn quân từ Sơn Tây nhanh chóng trở về, binh sĩ trên đường gặp phải sự ngăn trở của dòng sông, cùng ngày hôm đó thời tiết ở Bắc Bình đột nhiên rơi một trận tuyết lớn, Chu Đệ thầm cầu nguyện: “Nếu Trời trợ giúp thì xin hãy cho nước sông đóng thành băng”. Đêm hôm ấy, quả nhiên mặt sông kết thành băng, Yến Vương nhờ đó mà thuận lợi điều binh vượt sông trở về phản công đánh bại quân đội của Trần Huy.

Năm 1400, trong trận giao chiến trên sông Bạch Câu tại Hà Bắc, Lý Cảnh Long đại bại, quân đội Yến Vương trong khí thế chiến thắng tiếp tục tấn công bao vây Đức Châu, Sơn Đông, nhanh chóng thu phục được Đức Châu, tăng cường bổ sung nguồn lương thảo, tập trung sức mạnh tiếp tục công phá Tế Nam. Lý Cảnh Long lại một lần nữa thất bại thảm hại trước đội quân tinh nhuệ của Yến Vương, hoảng loạn tháo chạy về kinh đô.

Quân đội Yến Vương dàn thế trận bao vây Tế Nam trong ba tháng, nhiều lần đề nghị hối thúc quân dân trong thành quy thuận. Tướng quân trấn thủ Tế Nam giả bộ đầu hàng, thỉnh cầu Yến Vương lui binh 10 dặm, một mình cưỡi ngựa vào thành. Yến Vương không hề đề phòng mà vui vẻ chấp thuận lời thỉnh cầu. Sau khi lui binh, Yến Vương dẫn theo đoàn tùy tùng thân cận băng qua sông hộ thành, thẳng tiến vào vùng đất Tế Nam. Lúc này cổng thành rộng mở, nhưng khi Yến Vương thúc ngựa phi tới, cổng sắt bất ngờ đổ sập xuống, khiến đầu chiến mã bị thương. Yến Vương có chút chấn động, lập tức thay chiến mã khác xoay người tiếp tục tiến về phía trước. Quân đội trấn giữ thành Tế Nam kéo cầu treo lên, Yến Vương cưỡi ngựa từ trên cầu phóng băng qua. Đây cũng là một minh chứng cho thấy thiên ý luôn an bài bảo hộ Chu Đệ.

Sau khi phát hiện ra thủ đoạn lừa gạt của quân địch, Yến Vương hợp nhất binh lực một lần nữa tấn công Tế Nam, không ngờ rằng tướng quân trấn thủ lại treo trên trường thành một tấm thần bài Minh Thái Tổ. Yến Vương không tiếp tục công kích, sau khi trao đổi bàn bạc với Đạo Diễn, liền hạ lệnh rút quân trở về Bắc Bình. Theo đó, một số địa phương đã thu phục được như Đức Châu cũng bị mất quyền kiểm soát.

Sau đó, Kiến Văn Đế tiếp tục chiêu hàng Yến Vương nhưng bất thành, lại nghe theo lời đề xuất của đại thần Phương Hiếu Nhụ, âm mưu ly gián Chu Đệ và người con trai trưởng Chu Cao Sí, tiến hành gửi mật thư đến hậu duệ Chu Cao Sí, hứa hẹn sẽ phong hiệu Yến Vương nếu đồng thuận quy hàng. Chu Cao Sí trực tiếp đưa bức mật thư công khai trước mặt binh sĩ của Chu Đệ, phá tan âm mưu của Kiến Văn Đế.

Vào thời điểm đó, Chu Đệ tuy giành được nhiều thắng lợi nhưng cũng gánh chịu không ít tổn thất nặng nề, trong suốt ba năm khởi binh chinh chiến dù kiểm soát được nhiều địa phương, song cũng có lúc không thể không buông lỏng, lập tức bị quân đội triều đình khống chế chiếm giữ, đôi bên thường xuyên phát sinh những trận đánh giằng co quyết liệt.

Một điều được đặc biệt chú ý chính là xuyên suốt quá trình diễn ra chiến dịch, Chu Đệ luôn đề cao nguyên tắc nghiêm cấm các thủ hạ của mình lạm sát người vô tội, cũng không ít lần ông hạ chỉ phóng thích tù binh, những biểu hiện này đã phần nào tôn lên cốt cách cao đẹp, khoan dung, nhân ái của ông.

Tháng 8 năm 1399, Kiến Văn Đế phái cử lão tướng Cảnh Bính Văn lãnh đạo quân đội triều đình triển khai một trận quyết chiến với binh lực của Yến Vương tại Chân Định, Hà Bắc. Chu Đệ đánh bại đối thủ đồng thời giành được quyền kiểm soát huyện Hùng. Do đối mặt với sự ngoan cố chống trả cũng như phải chịu đựng nhiều lời lẽ lăng mạ sỉ nhục, thủ hạ của Chu Đệ vì nhất thời hồ đồ mà quên mất những lời cảnh tỉnh trước đây, đã xuống tay tàn sát hơn 8.000 tù nhân trong cơn thịnh nộ.

Chu Đệ vô cùng thất vọng, trước toàn quân buông lời khiển trách khuyên can: “Mọi người làm như vậy chính là hủy hoại hình ảnh của ta. Hành vi hiện nay của chúng ta chính là mưu cầu sinh tồn, điều này sẽ dẫn dắt chúng ta đến với cái chết nhanh hơn; việc tàn sát tù nhân sẽ khiến quân địch thêm tuyệt vọng mà không dám quy hàng, tiếp tay dồn ép họ đến bước đường cùng phải liều chết chiến đấu, cái được không thể bù cho cái mất; hơn nữa, thiên lý tuần hoàn, giết những người đồng thuận “đổi màu cờ” ắt sẽ gặp báo ứng. Tào Bân của Bắc Tống bởi vì không xuống tay với các binh lính quy hàng mà tử tôn hậu duệ thịnh hưng; Những người dám lạm sát những bại binh đã chịu cúi đầu khuất phục thì tương lai có thể tuyệt hậu hoặc gặp tai ương. Hôm nay tuy chiếm được một thành, nhưng thực tế gặt hái được thì ít còn mất mát thì thật nhiều”. Các chư tướng nghiêm túc lắng nghe cúi đầu tạ lỗi. Sự việc này cho thấy Chu Đệ là người có tầm nhìn xa hiểu rộng, lại có tâm kính thờ Thần Phật, tín ngưỡng luật nhân quả báo ứng. 

Vào tháng 9 năm 1400 đã xảy ra một trận hỏa hoạn lớn ở Thừa Thiên môn – Nam Kinh. Thừa Thiên Môn vốn được biết đến với những nội hàm ý nghĩa như “Thừa thiên khởi vận” hay “Thụ mệnh tại thiên”, là đại diện cho tính hợp pháp của nguồn gốc quyền lực đế vương, vì vậy trận hỏa hoạn này được xem như một lời nhắc nhở, một lời cảnh tỉnh từ thiên thượng dành cho Kiến Văn Đế. Rất nhiều quan đại thần đã trình tấu thư dâng lên Kiến Văn Đế “đưa ra nhiều đề xuất nên bãi binh, chấn hưng dân khí nhằm đáp lại sự định tội của đất trời”, tuy nhiên Phương Hiếu Nhụ lại cho rằng đây là điềm báo thể hiện chính sách tru diệt chư hầu, đồng thời đề nghị Kiến Văn Đế thay đổi tên cho Thừa Thiên Môn, Kiến Văn Đế cũng chấp thuận ý kiến này của ông ta.

Đến tháng 10 năm đó, Chu Đệ công phá Thương Châu, bắt sống hơn 3.000 binh lính quy hàng, sau khi nhận được mệnh lệnh phóng thích từ Chu Đệ, đại tướng Đàm Uyên vì bất mãn khi thấy những tù binh này vốn nhiều lần được triều đình chiêu mộ sau đó lật lọng quay trở lại tấn công quân ta, nên nhân lúc Chu Đệ không chú ý đã ra tay tàn sát toàn bộ tù binh. Chu Đệ vô cùng phẫn nộ, cảnh báo anh ta rằng nếu tiếp diễn những hành vi hiếu chiến lạm sát như vậy thì báo ứng sẽ không còn xa nữa. Quả thật không lâu sau đó, trong trận đánh tiếp theo, ngựa chiến của Đàm Uyên bất ngờ hoảng loạn mất kiểm soát, vùng lên khiến anh ra rơi xuống và bị kẻ thù giết chết. Đây cũng là một ví dụ thực tế cho thấy luật báo ứng nhân quả, thiên lý tuần hoàn. Sau đó lại tiếp tục diễn ra một trận huyết chiến khác giữa hai đại quân của Chu Đệ và Kiến Văn Đế tại Đông Xương, Sơn Đông, kết quả binh sĩ của Chu Đệ thất bại, đành rút lui về căn cứ Bắc Bình.

Cuối năm 1401, một bộ phận quan đại thần triều đình vốn bất mãn với những quyết sách của Kiến Văn Đế đã bí mật báo tin cho Yến Vương về hiện trạng phòng bị lỏng lẻo ở Nam Kinh, có thể nắm bắt thời điểm này để nhanh chóng đem quân tấn công. Vì vậy, Chu Đệ lập tức thay đổi chiến lược, vào năm 1402, ông chỉ huy quân đội di chuyển xuôi về phía Nam. Vào tháng 4, liên tiếp hạ gục sư đoàn Hà Phúc, Bình An, đến tháng 5 chiếm lĩnh được Tứ Châu, Dương Châu. Kiến Văn Đế rơi vào tình thế cấp bách, nhiều quan đại thần cũng vì cân nhắc đến an nguy của bản thân mình nên đã thỉnh cầu rời khỏi thành, kinh đô vườn không nhà trống. Phương Hiếu Nhụ nảy ra một chủ ý đệ trình lên Kiến Văn Đế, chính là tạm thời dùng kế cắt đất cầu hòa, nhằm kéo dài thời gian chiêu mộ binh mã phương Nam, huy động lực lượng trước khi tiến hành một trận huyết chiến với Yến Vương tại Trường Giang. Quyết định khai triển theo kế hoạch, Kiến Văn Đế phái quận chúa Khánh Thành đến đại bản doanh của Yến Vương, bày tỏ nguyện vọng xin được cắt nhượng một phần lãnh thổ cầu hòa, Yến Vương khẳng khái từ chối. Khi tiễn biệt quận chúa ra về, Yến Vương gửi lời nhắn nhủ: “Cho ta được tỏ lòng cảm tạ Thiên tử. Ta và thánh thượng tình cảm gần gũi tương thân, hoàn toàn không có ý gì khác, hy vọng đến cuối cùng sẽ tránh được thủ đoạn dối gạt của gian thần. Hơn nữa ta cũng từng nói với các đệ muội thân vương, tai họa này chúng ta gần như không thể tránh được, cậy nhờ tông miếu thần linh, đi đến bước này, thì ắt có ngày tương kiến rồi”. Sau khi trở về, quận chúa lập tức chuyển lời, Kiến Văn Đế nghe vậy đành bất lực buông xuôi, không biết xử trí ra sao.

Đến tháng 6, đô đốc phụ trách phòng ngự quân sự sông Trường Giang – Trần Tuyên dẫn theo những chiếc thuyền chiến làm cống phẩm đầu hàng Yến Vương, sư đoàn của Yến Vương thuận lợi vượt sông, đi xuống Trấn Giang, thẳng tiến áp sát Nam Kinh. Cốc Vương Chu Tuệ phối hợp cùng Lý Cảnh Long mở cửa Kim Xuyên đầu hàng, kinh đô thất thủ. Khi thành Nam Kinh bị chiếm đóng, cũng là lúc lửa bắt đầu bùng cháy trong cung điện, không ai biết Kiến Văn Đế Chu Duẫn Văn đã đi về đâu. Có ý kiến cho rằng Chu Duẫn Văn đã tử nạn trong trận đại hỏa hoạn năm ấy và được an táng theo nghi lễ hoàng gia, bị phế bỏ miếu hiệu, đổi thành Kiến Văn Hoàng Thái tử; nhưng cũng có giả thiết cho rằng ông đã xuất gia trở thành một tăng nhân.

Từ đó về sau, Chu Đệ kế thừa hoàng vị, lấy thụy hiệu Minh Thái Tông, đến năm Gia Tĩnh được đổi là Minh Thành Tổ, vốn dĩ chỉ có những vị hoàng đế khai quốc mới có chữ “Tổ” trong thụy hiệu, vào những năm Gia Tĩnh có sự thay đổi như vậy, rõ ràng muốn khẳng định tuyên bố rằng Thành Tổ chính là vị hoàng đế đưa Minh Triều một lần nữa bước vào thời kỳ khai thiên tịch địa, đánh giá này vô cùng thỏa đáng. Thật vậy Chu Đệ ngay từ khi mới lên ngôi, đã bắt đầu viết lên những giai thoại hào hùng về cuộc đời sự nghiệp vương đế huy hoàng lỗi lạc của mình.

Theo Epoch Times
Minh Ngọc biên dịch