Cuộc sống vợ chồng bất quá chỉ trăm năm, nhưng nghĩa nặng tình thâm, ân trọng như núi, nghĩa sâu như biển…

Cổ ngữ có câu: 
“Nhất nhật phu thê nhất nhật ân
Bách nhật phu thê tự hải thâm”

Tạm dịch:
Một ngày chồng vợ nên ân
Trăm ngày nghĩa nặng như ngàn biển sâu
.

Nguồn gốc của câu cổ ngữ này cũng rất thú vị. Theo nhà sử học Quan Hán Khanh, trong một vở hí kịch cổ mang tên “Thoát khỏi bụi trần”, tập ba của vở kịch có một câu thoại rằng: “Một đêm chồng vợ trăm đêm ân nghĩa”. Một câu nói, mà ai hiểu được cũng sẽ tan buồn, nguôi giận…

Chuyện kể rằng, khi xưa có một người họ Chu đã lừa dối để kết hôn với một thôn nữ họ Tống, đã vậy hàng ngày cô gái còn bị hắn ngược đãi. Một hôm, cô gái lén tìm đến nhà người tỉ muội kết nghĩa họ Triệu nhờ giúp đỡ. Triệu Phán thấy đây là việc nghĩa, lập tức nhận lời và nghĩ cách cứu người chị em họ Tống ‘thoát khỏi bụi trần’.

Lập luận thứ hai về nguồn gốc hai câu nói trên, phát xuất từ một truyền thuyết dân gian về “Đổng Vĩnh và Thất tiên nữ”. Tương truyền, khi Ngọc Hoàng Đại đế cho phép Thất tiên nữ (Nàng tiên thứ bảy) kết hôn với Đổng Vĩnh, Ngài đã mời Lão Hoè cổ thụ bên đường làm mai mối. Đổng Vĩnh thấy vậy bèn thưa:

– Cây làm sao biết nói mà làm chủ hôn kia chứ? 

Nàng tiên thứ bảy nói:

– Nếu Lão Hoè không mở miệng thì nhân duyên chia lìa. Nếu cây mở miệng thì hôn nhân xứng đôi, hợp với ý Trời.

Nói đoạn, hai người cùng quỳ lạy trước cây hoè cổ thụ. Lão Hòe đại thụ cảm kích Đổng Vĩnh là người hiếu nghĩa, nên đã thực sự mở miệng nói. Tuy nhiên trong lúc quá phấn khích, Lão Hoè đã nói sai một chữ. Đáng lẽ nói: “Trăm năm hợp hảo” lại nói thành “Trăm ngày hợp hảo”. Vì thế, Đổng vĩnh cùng nàng tiên thứ bảy chỉ vỏn vẹn có được một trăm ngày hạnh phúc bên nhau. Nguồn gốc câu tục ngữ “Một ngày chồng vợ, trăm ngày ân” cũng từ đây mà ra. 

Thời xưa vợ chồng rất coi trọng chữ ‘ân’… 

Vì sao nói: ‘Một ngày chồng vợ, trăm ngày ân’? Một ngày là khoảng thời gian rất ngắn, song “trăm ngày” cũng không phải theo nghĩa đen (số đếm từ 1 – 100) mà có ý nghĩa bền lâu. Vì thế, thời gian ở đây không phải là trọng tâm mà ý tứ của câu tục ngữ muốn đề cập. Cuộc sống vợ chồng bất quá chỉ trăm năm, nhưng nghĩa nặng tình thâm, ân trọng như núi, nghĩa sâu như biển. 

Thời xưa, vợ chồng trong lúc giao tiếp với nhau chính là ‘tương kính như tân’, ái ân, son sắc, chăm sóc lẫn nhau không nề hà. Cái gọi là ‘ân ái’ vợ chồng chính là vừa kính trọng, vừa yêu thương, tôn trọng nhau như ngày đầu mới gặp. Người xưa ai ai cũng đều biết, duyên vợ chồng là thiên mệnh không thể làm trái. Hai người có thể trở thành vợ chồng ấy là duyên phận, là ân huệ Trời ban. Nếu không có Nguyệt lão se duyên, thì kiếp này chẳng thể thành đôi được. 

Ảnh: Shutterstock.

Cái ‘ân’ giữa vợ và chồng còn một mối quan hệ nhân duyên sâu thẳm ở đằng sau mà không phải ai cũng nhìn thấu được. Phần nhiều là ở kiếp trước một trong hai người phải chịu ơn với người kia, kiếp này nguyện làm phu thê một lòng báo đáp. ‘Tình chồng, nghĩa vợ’ lấy chữ ‘ân’ làm nền tảng. ‘Yêu’ cũng là yêu trong lý trí chứ không phải đắm chìm trong mê muội ‘tình ái’ tầm thường hay dục vọng cõi hồng trần. Có như vậy mới chung sống vui vẻ, hạnh phúc bên nhau đến trăm tuổi bạc đầu. Phu thê không chỉ là báo đáp cái nghĩa vợ chồng, mà hai người còn phải tri ân công dưỡng dục của cha mẹ. Nếu không có công nuôi dạy của cha mẹ từ tấm bé cho đến khi trưởng thành, lại vun vén cho hôn nhân của con cái, một lòng chăm lo cho cháu con thì có vợ chồng nào được sống vui hạnh phúc, an yên giữa chốn nhân gian cho được.

Theo ý nghĩa bề mặt văn tự mà nói: “Ân, Huệ, cũng phát xuất từ nhân tâm”. Vậy cũng nói, ‘Ân’ là cái gốc của ‘Huệ’. Cho dù là người khác đã ban cho ta hay ta ban ân ngược lại, thì đều được gọi là ‘Ân’. Vì vậy, đã là chồng vợ thì ân nghĩa càng thêm sâu nặng. Đó là mối nhân duyên đã được an bài từ tiền kiếp, cha mẹ cũng là thuận theo ý Trời mà tác hợp đấy thôi! 

Hàm nghĩa chân chính của hai từ ‘chồng – vợ’

Duyên vợ chồng ngoài ‘Ân’ còn có ‘Nghĩa’. Người xưa thường nói: “Một ngày chồng vợ, nghĩa cả trăm năm”. Xét về một phương diện nào đó, thì nghĩa ấy chính là thể hiện trách nhiệm giữa vợ chồng với nhau, mãi mãi không xa rời, bách niên giai lão. Đó là văn hoá truyền thống cổ xưa, mà các bậc tiền bối muốn đề cập đến. Đó cũng chính là nội hàm chân chính của câu nói ‘vợ’, ‘chồng’. 

Vào thời Bắc Tống, Lưu Đình Thức nổi tiếng là người chính trực, lòng dạ thẳng ngay, giữ trọn lời ước hẹn ‘trước sau như một’. Khi còn trẻ, Lưu Đình Thức được một người giới thiệu cho một cô gái cùng quê. Hai người thề non, hẹn biển sẽ cùng nhau kết nghĩa phu thê, chung thuỷ đến cuối đời. Hai bên gia đình cha mẹ đều đồng thuận, tìm người mai mối tác hợp đạt thành hôn ước. Hẹn vài năm sau khi công thành danh toại, nhà trai sẽ đem sính lễ đến rước dâu, kết bái phu thê, trăm năm hạnh phúc.

Ít lâu sau, Lưu Đình Thức lên kinh ứng thí, tên đề bảng vàng, thi đậu cử nhân. Cũng vừa khi ấy, Lưu Đình Thức hay tin vị hôn thê của mình bất ngờ lâm bệnh, bị mù cả hai mắt. Gia đình đã mời nhiều danh y đến chữa trị nhưng không hiệu quả. Cô gái đành chấp nhận sống cuộc đời mù lòa. Đàng gái vốn gốc nhà nông, không quyền, không thế, nào dám đề cập đến chuyện hôn sự đã giao hẹn khi xưa. Người con gái tủi phận, ngày nào cũng hai hàng lệ chứa chan, than thân mình phận mỏng, phúc hèn. Buồn càng buồn hơn khi nghĩ đến cảnh vì nhà nghèo lại tàn tật, vị hôn phu của mình sẽ thay lòng đổi dạ mà từ hôn. 

Có người biết được chuyện này, khuyên Lưu Đình Thức không nên tiếp tục hôn sự với cô gái thôn quê nghèo khó, lại mù lòa, e rằng sẽ lỡ vận cả đời, huỷ hoại công danh hạnh phúc về sau. Nghe xong, Lưu Đình Thức cười nói: “Trái tim của ta đã trao cả cho nàng ấy, đã hứa hôn với nàng ấy. Tuy giờ đây hai mắt của nàng đã mù, nhưng làm sao ta có thể thay đổi được lời hẹn ước khi xưa đã hứa thương cô ấy trọn đời”.

Cuối cùng, Đình Thức đã quyết định cưới cô vợ mù lòa và luôn luôn ở bên cạnh chăm sóc giúp đỡ cô ấy. Họ ở bên nhau cả những khi vui vẻ lẫn khi gặp khó khăn hoạn nạn, sống hạnh phúc đến khi bạc đầu giai lão. Người sau truyền tai nhau về câu chuyện của họ như một giai thoại về lòng chung thuỷ. Lưu Đình Thức cũng được người đời ca ngợi là ‘nhất mực thuỷ chung’ và là tấm gương sáng về sự ‘tuân thủ hôn ước’, trước sau như một không thay lòng đổi dạ, tiếng thơm lưu muôn đời.

Theo Vision Times
Thái Bảo biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||27feef87f__

Ad will display in 09 seconds