Khi làm “chính trị” thì nhất định phải ngay chính. Lại cần dùng “văn” không thể dùng “võ”. “Võ” chính là bạo lực, cưỡng chế và sát phạt, nhất là dưới góc nhìn của văn hóa truyền thống Trung Nguyên, nếu dùng vũ lực mà không có chính nghĩa thì sẽ bị phỉ nhổ… 

Mỗi chữ tượng hình trong văn hóa truyền thống Trung Hoa cổ đại đều có sinh mệnh và có liên hệ tương thông với các ký tự trên thiên thượng, đồng thời chúng cũng mang theo đặc tính và kết cấu của vũ trụ. Chữ Hán chính thể vừa có ngữ âm vừa có tính biểu tượng mà các loại chữ viết của các dân tộc khác trên thế giới không thể so sánh được. 

Chữ Hán mà Thần truyền cho con người có mang theo nội hàm phong phú, lời ít mà nhiều ý. Chữ hán cổ hầu hết là dùng từ đơn, một chữ cũng có thể diễn đạt được đủ những ý tứ muốn nói. Ví dụ như từ “chính trị” (政治) là một từ ghép mà người hiện đại hay dùng. Tuy nhiên, đối với cổ nhân, đây là hai từ đơn lẻ, độc lập, “chính” (政) là một từ và từ “trị” (治) là một từ.  

Ý nghĩa cổ xưa của hai từ “chính” và “trị”

Theo như ‘Thuyết văn giải tự’ thì, chữ “chính” (政) được nói như sau: “Khổng Tử viết: Chính giả, chính dã”. Bên trái là chữ “chính”(正) đồng âm và cùng ý diễn đạt; bên phải là chữ  “Văn” (文) biểu đạt ý muốn diễn đạt. Đem hai chữ này hợp lại thành chữ “chính” (政) có nghĩa là dùng chính đạo, làm việc chân chính ngay thẳng và dùng “Văn” làm phương thức để truyền tải thông điệp “Bình thiên hạ”. 

Còn từ “Trị” (治) thời cổ đại thường mang hàm ý chỉ về nước. Trong ‘Tuân Tử – Tu thân thiên’ có viết: “Thiểu nhi lý viết trị”, tạm dịch “phạm vi nhỏ mà dùng lý gọi là quản lý”. “Trị” đại biểu cho một loại trạng thái tốt đẹp của xã hội. Từ này thường mang nghĩa đối lập với từ “loạn”, người xưa thường đem “trị loạn hưng suy” đặt cùng một chỗ để đàm luận. “Trị” là kết quả của “chính” (政). Có “chính” mới có “trị”, mất “chính” sẽ mất “trị” và sinh ra “loạn”. 

“Chính trị” (政) và “chính thường” (正)

Văn hóa truyền thống của Trung Quốc có thể giúp con người nhận thức sâu hơn về những khái niệm chân chính. Nội hàm của “chính trị” trong văn hóa thần truyền cũng phù hợp với đặc tính của vũ trụ. Phật gia có tuyên giảng, tại Thiên quốc, Phật dùng từ bi để quản lý thế giới của mình. Còn ở nhân gian, bậc quân chủ dùng “chính trị” để quản lý đất nước. 

Trong lời mở đầu ‘Nghiêu điển’ của ‘Thượng thư’ do Khổng Tử biên tập có viết: “Viết nhược kê cổ đế nghiêu, viết phóng huân, khâm, minh, văn, tư, an an, duẫn cung khắc nhượng, quang bị tứ biểu, cách vu thượng hạ. Khắc minh tuấn đức, dĩ thân cửu tộc; cửu tộc ký mục, bình chương bách tính. Bách tính chiêu minh, hiệp hòa vạn bang”.

Nghĩa là, Nghiêu đế bắt đầu bằng việc tu dưỡng đạo đức của bản thân, rồi kết thân với “cửu tộc”, tiếp đến trấn an dân chúng và cuối cùng đạt đến sự hòa hợp “vạn bang”. “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, đây là phương thức tuần hoàn theo hướng chính mà người xưa dùng, bắt đầu từ “chính” bản thân rồi dần dần kéo theo người khác, lại không ngừng hướng ra bên ngoài cảm hóa người khác.

Hoàng đế Nghiêu (ảnh: vẽ bởi Mã Lâm, do Bảo tàng Cung điện Quốc gia sưu tầm).

Mỗi triều đại Hoàng đế trong lịch sử đều là như thế. Lúc vương triều thịnh thế, nhất định là bởi Hoàng đế làm được rất “chính”, rồi đến các quan đại thần “chính”, trăm quan “chính”, sau đó là dân chúng “chính”, từ đó mà khiến ngoại bang khuất phục, thiên hạ hòa thuận, thái bình. Nếu bản thân vị hoàng đế không “chính”, thì mỗi tầng sẽ hỗn loạn, hủ bại, cuối cùng dẫn đến vong quốc, diệt gia, thân thể chẳng còn.

Không chỉ hoàng đế nắm chính quyền trong tay cần tu chính, mà cả các vương công đại thần cũng phải đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi riêng. Hoàng đế mỗi ngày cần phải lên triều để thảo luận các vấn đề quốc gia đại sự với quần thần. Đối với việc can gián hoàng đế, ngoài quan ngự sử ra, các vương công đại thần khác cũng có trách nhiệm với việc này. Lịch sử cũng ghi chép lại không ít các quan đại thần hiền đức đã thẳng thắn khuyên can và hoàng đế tiếp nhận lời can gián, những câu chuyện này không chỉ được người đời ca tụng mà còn được lưu lại đến ngày nay. 

Có thể nói, Đường Thái Tông là một vị hoàng đế giỏi tiếp nhận lời can gián nhất trong lịch sử. Ông rất giỏi trong việc lựa chọn hiền tài về đảm nhiệm chức trách, bồi dưỡng tinh thần chính trực khuyên can, tiếp thu ý kiến từ quần chúng, quân và dân cùng bàn sách lược quốc gia. Quan đại thần can gián Ngụy Trưng là người trung thành lại ngay thẳng. Trong cuộc đời làm quan của mình, ông có hơn 200 tấu khuyên đối với Thái Tông, không chỉ đưa ra những kiến giải chính xác về đại sự của đất nước mà còn thường xuyên thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm và thiếu sót của Đường Thái Tông. Ông đã viết cuốn “Thập tiệm bất khắc chung sơ” kịch liệt chỉ ra 10 khuyết điểm và sai lầm của Đường Thái Tông, điều này khiến Thái Tông vô cùng xấu hổ. Nhưng ông vẫn trọng dụng Ngụy Trưng, thậm chí còn lấy “Thập tiệm bất khắc chung sơ” làm điều răn khi còn chấp chính.

Tranh vẽ Đường Thái Tông (Nguồn: Wikipedia).

Hầu hết các hoàng đế thời cổ đại không chỉ tự nghiêm khắc với bản thân mà còn rất sáng suốt. Bắt đầu từ thời nhà Tùy và nhà Đường, “chế độ ba tỉnh và sáu bộ” đã hoạt động giống như một hệ thống phân quyền và quản thúc của phương Tây. Các lệnh của hoàng đế ban ra cần được quan cấp tỉnh xét duyệt. Thêm nữa, quan lại cấp tỉnh có quyền rút lại chiếu chỉ của hoàng đế. Tống Thái Tổ thề không giết các đại thần và ngôn thần, điều này thực hiện được tương đương với “tự do ngôn luận”. 

Các bậc quân vương cổ đại thực sự không chuyên chế và ngang ngược giống như điều mà người hiện đại nghĩ. Đây chẳng qua là bị Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) cố tình bôi nhọ, bóp méo lịch sử và tiền nhân. Mục đích cuối cùng của nó thì tất nhiên ai cũng biết. Trong xã hội Trung Quốc truyền thống, người dân thuần hậu, bầu không khí xã hội văn minh. Đây là điều mà xã hội dưới sự kiểm soát của ĐCSTQ không thể sánh được.

Đương nhiên, trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, các triều đại cũng có những vị hoàng đế, vì vấn đề cá nhân mà biểu hiện ra sự khác biệt. Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể thì các hoàng đế cổ đại dựa trên lý niệm “chính trị” truyền thống để quản lý đất nước. Nhất là từ lúc khởi đầu thời nhà Hán, quyền lực triều đình luôn chịu ước thúc bởi tư tưởng Nho gia, thực thi nền “chính trị nhân từ” càng là yêu cầu bắt buộc đối với bậc đế vương. 

Ngoại trừ bậc đế vương, trong bách gia chư tử, dù là “nhân” của Nho gia, “đạo” của Đạo giáo, hay “kiêm ái” của Mặc gia,… cũng đều nhấn mạnh đến chính tâm, chính thân. Ngay cả học thuyết binh gia “binh giả, quỷ đạo dã” cũng nói về đạo của tướng lĩnh. Bắt đầu từ tự thân đi làm, cảm thương binh sĩ, mới có thể quyết định được thắng bại sau cùng.

Văn hóa truyền thống Trung Nguyên có thể tăng thêm chính niệm cho con người, trong nội hàm chính thống của chữ “Chính”, không cần giải thích quá nhiều, người ta vừa nhìn thấy chữ này liền hiểu được nên quản lý xã hội như thế nào rồi.

Bên phải của chữ “Chính” (政) là chữ “văn” (文), không phải chữ “võ” (武)

Bên phải của chữ “Chính” (政) là chữ “văn” (文), không phải chữ “võ” (武), đây cũng là nội hàm cơ bản của lý niệm truyền thống về “chính” và “trị”. Vậy lý giải “văn” như thế nào? Khởi điểm của văn hóa Trung Hoa là văn hóa lễ nhạc, điều này cho thấy, ngay từ lúc bắt đầu nền văn hóa Thần truyền đã có khởi điểm rất cao.

Hoàng Đế cùng Kỳ Bá bàn luận về Đạo mà viết thành cuốn “Hoàng đế nội kinh”, trong đó nói rằng “trời có ngũ âm, người có ngũ tạng, trời có sáu luật, người có lục phủ”. Nói cách khác, ngũ âm và sáu luật của thiên thể đối ứng với các mạch lạc và phủ tạng của con người, có đủ âm quý trung hòa đức của năng lượng thuần khiết, có thể thuận theo vạn sự vạn vật trong trời đất mà vận hành, có lợi đối với đạo dưỡng sinh của con người và cũng có thể dùng thiện cảm hóa vạn vật.

Thời đại vua Thuấn, lễ nhạc cũng được coi là thứ có thể giáo hóa dân chúng, đề cao hàm dưỡng đạo đức bản thân, thuận theo đó mà đạt đến Thiên nhân hợp nhất. Vua Thuấn bổ nhiệm Quỳ làm quan phụ trách âm nhạc cung đình, dùng âm nhạc để dạy bảo bậc đế vương cùng các vương tôn quý tộc đời sau, bồi dưỡng họ thành những người chính trực và ôn hòa hiền hậu, khoan hậu mà kính cẩn, cương nghị mà không đắc chí, hung bạo, rộng lượng mà không kiêu căng áp bức người. Dùng thơ để diễn tả chí hướng, dùng ca hát làm phương tiện truyền tải để thơ cất lên lời, tiếng hát và nhịp điệu cần hài hòa, âm luật phù hợp với ngũ âm, diễn tấu tám bộ nhạc cụ nhịp nhàng không loạn, như vậy người và Thần có thể tương thông hài hòa. Mà nhạc phẩm kinh điển “thiều” của vua Thuấn là một tác phẩm thiện hóa nhân tâm, thu phục được bộ tộc Tam Miêu.

Khổng Tử viết: “Tôi theo nhà Chu”. Khổng Tử nhận thức rằng nhà Hạ xem trọng “Chất”, nhà Thương xem trọng “Văn”, còn nhà Chu thì là “hào hoa phong nhã” cũng chính là có đầy đủ cả “chất” lẫn “văn”. Cho nên, ông càng tôn sùng cách thức và chuẩn mực trị quốc của nhà Chu. 

“Văn” và “võ” là đối lập nhau. Đối với võ thuật, người xưa vô cùng thận trọng khi sử dụng. Võ lực chỉ được sử dụng vào những thời điểm bất đắc dĩ. Lão Tử nói “không dùng binh bức thiên hạ”, Tôn Tẫn cũng nhấn mạnh “thắng ở đạo” và chiến tranh phải có chính nghĩa. Trong “Lễ ký – Tế pháp” có câu “Văn Vương dùng văn trị, Võ Vương dùng võ trị, gạt bỏ tai họa cho dân”.

Một khi thay đổi triều đại, có được thiên hạ rồi, bậc quân vương không nên dùng vũ lực để quản lý đất nước nữa. Người Trung Quốc xưa có câu: “Mã thượng đắc thiên hạ, mã hạ trị thiên hạ” (Ngồi trên lưng ngựa lấy được thiên hạ, xuống ngựa để cai trị thiên hạ). Nói cách khác, khi làm “chính trị” thì nhất định phải dùng “văn” không thể dùng “võ”. “Võ” chính là bạo lực, cưỡng chế và sát phạt, nhất là dưới góc nhìn của văn hóa truyền thống Trung Hoa, nếu dùng vũ lực mà không có chính nghĩa thì sẽ bị phỉ nhổ. 

Đặc biệt là trong thời bình, cai trị đất nước mà cứ mãi tuyên truyền những luận điệu hủ bại kiểu như: “Đấu tranh”, “Chính quyền từ nòng súng”, “đàn áp”, “bạo lực”, “vũ trang”, v.v… đây là những hành vi lưu manh, phản nhân tính. ĐCSTQ làm “chính trị” chính là cưỡng chế áp đảo dân chúng, xây dựng một nền thống trị đi ngược với “chính” và “trị” trong văn hóa truyền thống. 

Hai từ “văn hóa” trong tiếng Hán cũng mang theo nội hàm lấy “văn” để “cảm hóa” tư tưởng. Hoàng đế sử dụng đức “văn” để cảm hóa chư hầu cùng bá quan văn võ. Quan viên cũng dùng đức “văn” để cảm hóa dân chúng. “Người Trung Quốc” (người Trung Nguyên) dùng “văn” để cảm hóa người ngoại quốc, từ đó mà đạt được thời thịnh thế “bình thiên hạ”. Làm được “chính” như thế này mới thật là tốt biết bao! Nếu như toàn thế giới đều dùng lý niệm này để “làm chính trị” thì thiên hạ chắc chắn sẽ thái bình.

Theo Sound Of Hope
San San biên dịch