Đối đãi với người bằng thái độ khoan dung, ấy là một loại mỹ đức, một loại phong độ, một cảnh giới vô tư vô ngã. Người có tấm lòng bao dung rộng lớn sẽ vui vẻ thành tựu cho người, còn kẻ đố kỵ tâm địa hẹp hòi chỉ biết mưu lợi cho cá nhân mình.

Đại thi hào Âu Dương Tu, người đứng đầu văn đàn thời Bắc Tống là một ví dụ điển hình về lòng bao dung. Sử sách ghi lại, tháng 2 năm Gia Hựu thứ 2, Âu Dương Tu đảm nhiệm chức quan chủ khảo với thân phận là Hàn lâm học sĩ. Khi ông đọc đến bài văn “Hình thưởng trung hậu luận”, ông vô cùng cao hứng, chuẩn bị xếp bài này vị trí số 1. Do tên của thí sinh trên bài thi đã được niêm phong, Âu Dương Tu cho rằng bài văn này là của Tăng Củng, học trò của ông viết. Để tránh tị hiềm, ông chỉ xếp bài này là tiến sĩ vị trí thứ hai . Thực ra, “Hình thưởng trung hậu luận” là của Tô Thức, khi đó mới 20 tuổi viết. Trong bài thi, Tô Thức đã triển hiện tài học trác việt của mình, sau này lại thi đỗ trong kỳ thi điện (thi đình). Tô Thức rất khâm phục quan chủ khảo, sau đó lại dâng thêm mấy bài văn xin Âu Dương Tu chỉ điểm.

Âu Dương Tu sau khi tỏ tường bài văn “Hình thưởng trung hậu luận” không phải là Tăng Củng, học trò của ông viết, mà là Tô Thức, người mới bước ra khỏi lều cỏ viết, lòng ông cảm thấy rất có lỗi với Tô Thức vì đã để ông chịu thiệt ở vị trí thứ hai. Ông xem những bài văn mà Tô Thức gửi đến sau đó thì càng khen không ngớt lời. Âu Dương Tu bèn thảo một bức thư cho Mai Nghiêu Thần, người có danh vọng rất cao khi đó, nói rằng: “Văn chương của Tô Thức thật là rất xuất sắc, lão phu nên nhường đường, để cậu ta đứng đầu mọi người. Mừng thay! Mừng thay!”. Tô Thức được Âu Dương Tu và người nổi danh trong giới văn học chỉ điểm, văn chương ngày càng thêm hay, sau này quả nhiên xuất sắc hơn người.

Có người nói với Âu Dương Tu rằng: “Tài học của Tô Thức sâu rộng như vậy, nếu ông đề bạt người này, e rằng sau 10 năm, thiên hạ chỉ biết người này mà không biết đến ông nữa”. Âu Dương Tu chỉ mỉm cười cho qua, bằng tấm lòng khoáng đạt dám bao dung người, thực sự mong muốn người khác tiến bộ, trưởng thành, vượt trên cả mình, ông đã dìu dắt những người như Tô Thức, Tăng Củng, Tô Triệt…, đã đặt nền móng cho sự phát triển phồn vinh của giới văn học thời Bắc Tống. Về sau, những người này đều trở thành một trong những “Đường Tống Bát đại gia” (tám nhà văn lớn thời Đường – Tống).

Tháng 8 năm Chí Hòa thứ nhất, Tống Nhân Tông điều Âu Dương Tu đến Thái sử cục nơi Lân Đài cùng biên soạn bộ sử “Tân Đường thư” cùng với nhà sử học Tống Kỳ. Sau khi hoàn thành bộ sách, theo thông lệ, trên sách chỉ ghi tên vị quan có vị trí cao nhất trong Thái sử cục. Chức quan của Âu Dương Tu cao hơn Tống Kỳ, quan ngự sử quyết định chỉ ghi tên của Âu Dương Tu lên “Tân Đường thư”. Tuy nhiên, Âu Dương Tu lại nói: “Tống Công là người có công lớn ở phần ‘Liệt truyện’, thời gian ông ấy dành ra biên soạn bộ sử sách lại lâu dài hơn tôi nhiều, sao tôi có thể che lấp và đoạt mất công trạng của ông ấy chứ?”. Sau khi Tống Kỳ biết chuyện thì rất lấy làm cảm động. Âu Dương Tu khiêm nhường, không chiếm công của người khác, tấm lòng biển lớn dung nạp trăm sông của ông đã trở thành giai thoại được người đời sau truyền tụng.

Người có tấm lòng rộng mở, họ dốc sức vì lý tưởng cao thượng, coi việc phồn thịnh thiên hạ là trách nhiệm bản thân, “lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”. Họ xem danh lợi nhạt như nước, coi vinh nhục như khói mây, gặp thất bại trắc trở không nản lòng, những lúc đắc ý thì không phù phiếm, khi gặp phải nghịch cảnh vẫn bình thản ung dung, có tâm cảnh “Giậu đông hái đóa cúc nhà, Nam sơn thanh thản cho ta ngóng về”, có sự phóng khoáng siêu thoát “trèo đến đỉnh núi, ta cao nhất”, có sự cao khiết “hoa mai cười ngạo sương tuyết càng thêm tươi đẹp”.

Trái lại, người lòng dạ hẹp hòi, đố kỵ, tầm nhìn hạn hẹp, thường hay so đo tính toán, nhọc nhằn tranh đấu chỉ vì tư lợi cá nhân. Họ hôm nay lo sợ ai đó hơn hẳn họ, ngày mai lại lo lắng ai đó đi trước họ, cả đời tranh đấu ngược xuôi, không giờ phút nào được yên ổn. Thậm chí còn có người do tâm đố kỵ sai khiến mà vu cáo hãm hại người tốt, làm đủ mọi việc xấu ác, dù họ nhất thời đắc thế, nhưng cuối cùng chỉ khiến họ thành kẻ cô đơn lạc lõng, “chạy trời không khỏi nắng”, sau cùng cũng không thoát khỏi sự trừng phạt nghiêm khắc của ông trời, chịu sự khinh bỉ ruồng rẫy của người đời, để lại tiếng xấu trong sách sử. Lý Lâm Phủ, thừa tướng tại nhiệm lâu nhất triều Đường Huyền Tông, là một trong những ví dụ điển hình nhất.

Lý Lâm Phủ biết bản thân danh tiếng trong triều không được tốt, hễ trong các quan đại thần, người nào có năng lực hơn ông ta, hay được Đường Huyền Tông coi trọng, ông ta ắt dùng đủ trăm phương nghìn kế để trừ bỏ người đó. Lý Lâm Phủ nham hiểm xảo trá, bề ngoài thì dùng lời lẽ ngon ngọt kết giao với nhau, sau lưng thì âm mưu ám hại người ta, người thời đó gọi ông ta là “khẩu mật phúc kiếm” (miệng nam mô bụng bồ dao găm). Những trung thần làm quan tể tướng cùng thời với ông ta như Trương Cửu Linh, Bùi Diệu Khanh, Lý Thích Chi… lần lượt đều bị ông ta loại trừ. Vì để chuyên quyền củng cố địa vị, ông ta dốc hết sức bịt đường ngôn luận của người dân, vu cáo hãm hại người tốt, xây dựng nhiều nhà tù lớn, bài trừ những người bất đồng chính kiến.

Có lần, Đường Huyền Tông trên lầu Cần Chính, sau tấm rèm cửa nhìn ra xa, thấy Binh bộ Thị lang Lư Huyến cưỡi người đi qua dưới lầu. Đường Huyền Tông thấy Lư Huyến rất có phong độ,  thuận miệng khen mấy câu. Ngày hôm sau, Lý Lâm Phủ biết được việc này, bèn giáng chức Lư Huyến làm Thứ sử Hoan Châu. Lư Huyến đến nhậm chức không lâu thì lại bị Lý Lâm Phủ vu cáo là thân mang trọng bệnh không thể đảm nhiệm chức vụ, lần nữa bị giáng chức.

Lý Lâm Phủ làm tể tướng 19 năm, các đại thần tài năng chính trực đều lần lượt bị ông ta loại trừ, hoặc là bị giết hoặc bị giáng chức, còn bè lũ tiểu nhân xu nịnh trục lợi đều được trọng dụng đề bạt. Lý Lâm Phủ chuyên quyền độc đoán, hại nước hại dân, thời gian này, cảnh tượng phồn vinh “Khai Nguyên chi trị” đã bị phá sạch, sau đó lại xuất hiện “loạn Thiên Bảo” (Thiên Bảo là niên hiệu thời kỳ cuối của Đường Huyền Tông). Lý Lâm Phủ chết rồi, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm, đều nguyền rủa ông ta “chết chưa hết tội”. Lúc này, có nhiều người tố giác Lý Lâm Phủ cùng phiên tướng A Bố Tư ý đồ mưu phản, Đường Huyền Tông liền cắt bỏ chức quan của Lý Lâm Phủ, tịch thu gia sản, con trai con rể ông ta bị đi lưu đày. Mọi người đều nói Lý Lâm Phủ “ác có ác báo”, thật xứng với tội.

Người xưa nói: “Biển lớn dung nạp trăm nghìn sông, có tấm lòng bao dung nên trở thành vĩ đại; vách núi nghìn trượng sừng sững, không mang dục vọng nên có thể giữ mình cương trực”. Những người tu tập theo đạo thánh hiền thời xưa luôn coi khoan dung là mỹ đức để hướng đến, coi đố kỵ là điều đáng hổ thẹn cần phải tránh xa. Chỉ có tấm lòng độ lượng và bao dung người khác, thì mới có thể đem đến cho người ta sự ấm áp, cảm hóa và thức tỉnh. Bởi đó là sức mạnh của thiện lương, và nó có thể động đến bản chất của sinh mệnh, có thể giải thể hết thảy những thứ bất chính, có thể bao dung hết thảy và có thể làm được hết thảy, giống như có triết gia từng nói: Rộng lớn hơn lục địa là đại dương, rộng lớn hơn đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn bầu trời là tấm lòng con người.

Theo Minghui.org
Vũ Dương biên dịch

Từ Khóa: